Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English  | 
  
Tìm kiếm        

Trang chủ

Thời sự

Tiêu điểm

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước

Cấp uỷ Đảng

Tổ chức - Cán bộ

Tư tưởng - Văn hoá

Thanh tra - Kiểm tra

Dân vận

Xã hội

Kinh tế

Nội chính

Đối ngoại

Tài chính và Chứng khoán

Khoa giáo

Du lịch

Thể thao

Văn học nghệ thuật

Pháp luật

Quốc tế

Người Việt Nam ở nước ngoài

Việt Nam - Đất nước - Con người

Thi đua yêu nước

Chống tham nhũng, lãng phí

Những vấn đề toàn cầu

Diễn đàn

Hỏi - Đáp

Trò chuyện về Đảng

Thông tin lý luận


 

Ðiện thoại
  08048161
08048237
0903251209
0903458659
Fax: 08044175
E-Mail:
  kythuat@cpv.org.vn
dangcongsan@cpv.org.vn

DCSVN-Kinh nghiệm giải quyết vấn đề ruộng đất trong cách mạng Việt Nam

Kinh nghiệm giải quyết vấn đề ruộng đất trong cách mạng Việt Nam

Ngày 10/6/2003. Cập nhật lúc 20h 34'

Trước khi thực dân Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam trải qua hàng ngàn nǎm dưới chế độ phong kiến, với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, ruộng đất thuộc quyền chiếm đoạt và chi phối của giai cấp địa chủ phong kiến. Những hình thức bóc lột phổ biến trong xã hội phong kiến là địa tô, nợ lãi và thuế. Trong đó, hình thức đặc trưng là địa tô phong kiến, nó đã kìm hãm phát triển lực lượng sản xuất và là nguồn gốc khổ cực của người nông dân. Mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc xâm lược Pháp và bọn tay sai; mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là giai cấp nông dân, với giai cấp địa chủ phong kiến.

Cuối thế kỷ XIX, vua quan phong kiến triều Nguyễn đầu hàng và bán rẻ nước ta cho thực dân Pháp. Trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã hình thành ở nước ta. Thực dân Pháp đã đặt hết thảy nền kinh tế nước ta vào tay các tổ chức tư bản độc quyền, đứng đầu là tập đoàn tư bản tài chính "Ngân hàng Đông Dương". Sự thống trị của tư bản độc quyền không có nghĩa là quan hệ sản xuất phong kiến bị loại trừ; trái lại, chúng duy trì nó để kìm hãm sự phát triển và làm cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của chế độ thuộc địa.

Về chính trị, thực dân Pháp sử dụng bộ máy chính quyền phong kiến làm tay sai cho chế độ thực dân; mặt khác, chế độ thực dân làm chỗ dựa tồn tại của giai cấp địa chủ phong kiến, nhằm bóc lột, đàn áp nhân dân Việt Nam.

Xã hội Việt Nam lúc này tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược và mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến. Xã hội Việt Nam từ chỗ là xã hội phong kiến chuyển thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Tính chất này được thể hiện trong nền kinh tế là chế độ chiếm hữu ruộng đất và đời sống nông dân.

I. ĐẶC ĐIỂM SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT VÀ ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN VIỆT NAM DƯỚI CHẾ ĐỘ THỰC DÂN PHONG KIẾN

1. Ruộng đất bị địa chủ phong kiến chiếm hữu


Trước Cách mạng tháng Tám 1945, ở nước ta đất trồng trọt chỉ có 4,3 triệu hécta, trong đó, khoảng 54,5% diện tích do giai cấp địa chủ phong kiến và các thế lực nhà thờ chiếm hữu. Số còn lại thuộc 37,8% số hộ nông dân, 62,2% số hộ nông dân không có ruộng.

Đặc biệt ở Nam Bộ, ruộng đất tập trung trong tay giai cấp địa chủ phong kiến với mức độ cao hơn. Trong tổng số 2,3 triệu hécta ruộng đất ở Nam Bộ, địa chủ chiếm hữu khoảng 56,9%. 6300 địa chủ lớn (tổng số toàn quốc là 6530) đã chiếm hữu 45% tổng số ruộng đất ở Nam Bộ, 67,6% số hộ nông dân không có ruộng.

ở Bắc Bộ và Trung Bộ, nơi đất hẹp người đông, mức chiếm hữu ruộng đất của địa chủ tuy thấp hơn Nam Bộ, nhưng tỷ lệ tập trung ruộng đất trong tay giai cấp địa chủ khá lớn. Theo thống kê của ủy ban cải cách ruộng đất trung ương (sau sửa sai) tại 3653 xã thuộc vùng đồng bằng và trung du miền Bắc nǎm 1945 địa chủ chỉ có 4% dân số đã chiếm hữu tới 24,5% tổng số ruộng đất. Phần lớn ruộng đất công do địa chủ lũng đoạn, thao túng. Thực chất ruộng công thuộc quyền chi phối của giai cấp địa chủ.

Tóm lại, những số liệu trên đã phản ánh một thực tế là dưới chế độ thực dân phong kiến, giai cấp địa chủ chiếm hữu trên 50% tổng số ruộng đất ở nước ta, chúng áp bức, bóc lột nông dân hết sức nặng nề. Dưới đây là tình hình phân phối ruộng đất ở miền Bắc nǎm 1945.

b) Chiếm hữu ruộng đất của tư bản Pháp.

Thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, duy trì quan hệ sản xuất phong kiến, đồng thời cho phép tư bản Pháp chiếm hữu và khai thác ruộng đất ở nước ta trên quy mô lớn.

Đến nǎm 1890, ở Việt Nam đã có 126 đồn điền, hầu hết là của bọn cố đạo, bọn võ quan và thực dân người Pháp. Số ruộng đất mà chúng khai thác ở Trung Kỳ là 3484 hécta, Bắc Kỳ là 3068 hécta và Nam Kỳ là 4346 hécta.

Trong khoảng thời gian từ nǎm 1890 đến nǎm 1900, tư bản Pháp chiếm 320.000 hécta ruộng đất trồng lúa và cao su. Đặc biệt từ nǎm 1907 trở đi, thực dân Pháp đổ xô vào khai thác vùng đất đỏ Nam Bộ, và Nam Trung Bộ, đồng thời mở rộng các đồn điền ở Sơn Tây, Bắc Giang, Thái Nguyên. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa bằng việc mở rộng các đồn điền. Từ nǎm 1921 đến nǎm 1926, chúng chiếm trên 100.000 hécta đồn điền cao su, từ nǎm 1926 đến nǎm 1928 chúng chiếm 215.000 hécta.

Như vậy, từ khi trở thành thuộc địa của Pháp cho đến nǎm 1930, ruộng đất ở Việt Nam tập trung trong tay tư bản Pháp lên tới 1.025.000 hécta (riêng đồn điền cao su là 706.000 hécta).

Ngoài ra ruộng đất còn tập trung trong tay bọn tư bản tài chính (Đông Pháp ngân hàng, Địa ốc ngân hàng và các chi nhánh của nó). Nông khố ngân hàng có ở hầu khắp các tỉnh bằng hình thức cho vay rồi chiếm đoạt ruộng đất của cả địa chủ và nông dân.

Qua nghiên cứu chế độ ruộng đất thời kỳ thực dân, phong kiến, có thể rút ra mấy kết luận:

- Đế quốc Pháp xâm lược nước ta đã duy trì chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến trong việc chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, đã tạo ra cơ sở kinh tế - xã hội cho sự tồn tại của chế độ thực dân ở Việt Nam.

- Địa chủ và tư bản thực dân nắm trong tay khoảng 70% ruộng đất, trong khi nông dân chiếm trên 90% số dân chỉ có khoảng gần 30% ruộng đất. Mức chiếm hữu ruộng đất như trên tạo cho giai cấp thống trị có đầy đủ phương tiện vật chất để áp bức bóc lột nông dân, làm tuyệt đại đa số nông dân ta sống trong cảnh bần cùng, đói rách và dân tộc ta bị kìm hãm trong vòng nghèo nàn, lạc hậu.

2- Đời sống nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thống trị

a) Sự bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến.

Dựa vào sự chiếm hữu ruộng đất, giai cấp địa chủ phong kiến bóc lột nông dân dưới hình thức địa tô, nợ lãi và thuê mướn bóc lột nhân công.

Địa tô là hình thức bóc lột phổ biến của giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam (chủ yếu là tô hiện vật). Có ba hình thức địa tô sau đây:

Tô đóng: tuỳ theo từng loại ruộng đất thuộc hạng nào (tốt hay xấu, xa hay gần, dễ làm hay khó làm...), địa chủ ấn định trước số lượng thóc mà tá điền phải nộp tô trên mỗi mẫu bất kể vụ đó tá điền có thu hoạch được hay không. Hình thức này thường được bọn địa chủ lớn áp dụng. Với hình thức tô đóng, địa chủ có hai cái lợi: một là, nắm chắc phần sản phẩm trong tay; hai là, không phải bỏ công quản lý. Còn đối với nông dân, được mùa đã vậy, chẳng may mất mùa, họ chỉ còn cách đi vay lãi nộp tô cho địa chủ.

Tô rẽ: trên cơ sở thu hoạch cụ thể của vụ trước, địa chủ chia với nông dân theo một tỷ lệ ấn định trước (thường là 50%- rẽ đôi cho mỗi bên). Chi phí ruộng đất hoàn toàn do nông dân bỏ ra, sản lượng càng cao thì mức tô rẽ càng tǎng, do vậy địa chủ bóc lột được nhiều. Hình thức này đã kìm hãm sự phát triển của sức sản xuất trong nông nghiệp. Tô rẽ thường được bọn địa chủ nhỏ áp dụng.

Tô lao dịch: địa chủ lấy vụ chính, mọi việc làm trong vụ này đều do nông dân, còn địa chủ quản lý. Bằng hình thức này, địa chủ vắt kiệt sức lao động của nông dân.

Ngoài địa tô chính, nông dân còn phải nộp cái gọi là "địa tô phụ" dưới hình thức lễ lạt, quà cáp, biếu xén...

Bóc lột bằng nợ lãi là hình thức bóc lột phổ biến của địa chủ và là gánh nặng đổ lên đầu nông dân. Sau khi nộp tô cho địa chủ, người nông dân không còn đủ sản phẩm để nuôi sống gia đình, phải đi vay lãi. Đây là dịp để địa chủ thực hiện việc tước đoạt nốt ruộng đất và tài sản cuối cùng của nông dân.

Bóc lột bằng chế độ làm công nô lệ là hình thức bóc lột phổ biến của địa chủ vừa và nhỏ. Quan hệ giữa nông dân và địa chủ là quan hệ lệ thuộc giữa tá điền với chúa đất.

b) Sự bóc lột của tư bản Pháp

Trong số hơn một triệu hécta ruộng đất mà bọn tư bản Pháp chiếm đoạt, gồm một phần ba là ruộng lúa. Khai thác loại ruộng đất này, về cơ bản tư bản cũng áp dụng phương thức bóc lột phong kiến. Điểm khác ở đây là bộ máy chính quyền thực dân trực tiếp bảo vệ quyền lợi của các chủ đồn điền.

Số đồn điền trồng cây công nghiệp, tư bản Pháp trực tiếp kinh doanh và thuê mướn nhân công. Đồn điền trồng cây công nghiệp nằm tại những vùng đất mới khai phá (đất rộng, người thưa). Chủ đồn điền Pháp mộ phu phần lớn ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Người nông dân bị dồn vào thế cùng quẫn bởi sưu cao, thuế nặng, địa tô, nợ lãi... cuối cùng phải rời bỏ quê quán vào làm thuê cho các chủ đồn điền. Tại đây, bọn tư bản thực dân bóc lột lao động làm thuê một cách tàn bạo, thân phận người lao động trở thành thân phận người nô lệ.

Ngoài các hình thức bóc lột trên đây, địa chủ và thực dân Pháp còn bóc lột nông dân bằng sưu cao, thuế nặng như: thuế đinh, thuế điền, thuế ngoại phụ. Thuế đinh bổ vào người nam giới từ 18 tuổi đến 60 tuổi, thuế điền đánh vào các loại ruộng, thuế phụ thu lạm bổ đánh vào người dân cày... Chính quyền thực dân dùng thuế quan nhằm bảo hộ công thương nghiệp chính quốc, kìm hãm sự phát triển kinh tế thuộc địa, triệt tiêu các nghề truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, với toàn bộ thiết chế chính trị của chúng, chính quyền thực dân cùng vua quan phong kiến và địa chủ đã kìm hãm nền kinh tế Việt Nam trong phương thức sản xuất lỗi thời, lạc hậu. Thân phận người nông dân Việt Nam chỉ là nô lệ. Vì vậy, đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày là yêu cầu khách quan, hợp quy luật của xã hội Việt Nam, là nguyện vọng tha thiết của nông dân.

II- QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

1- Thời kỳ 1930-1945


Trước khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, trong hơn nửa thế kỷ, nhiều giai cấp và tầng lớp đã đứng lên lãnh đạo nhân dân ta chống xâm lược. Nhưng do hạn chế về mặt giai cấp, ở nước ta, chưa có một tầng lớp hay một giai cấp nào nhận thức được tính bức thiết của vấn đề ruộng đất cũng như mối quan hệ khǎng khít của nó với vấn đề giải phóng dân tộc. Đó chính là nguyên nhân khiến cho họ không lôi kéo được đông đảo nông dân tiến hành giải phóng dân tộc và không tránh khỏi thất bại.

Chỉ đến khi giai cấp công nhân Việt Nam với đội tiên phong của mình là Đảng cộng sản Việt Nam bước lên vũ đài chính trị thì vấn đề ruộng đất và vấn đề nông dân mới được nhận thức đúng vị trí quan trọng của nó và được đặt thành một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam.

Trong Chính cương vắn tắt và Điều lệ vắn tắt do đồng chí Nguyễn ái Quốc khởi thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (3-2-1930) đã chỉ rõ: "Cách mạng Việt Nam là tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để tiến tới xã hội cộng sản".

Luận cương chính trị tháng 10-1930 khẳng định tính chất của cách mạng Việt Nam là "cách mạng tư sản dân quyền, nó phải giải quyết hai nhiệm vụ chiến lược là đánh đế quốc giành độc lập dân tộc và đánh đổ phong kiến giành ruộng đất cho nông dân. Vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được các giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi, mà có phá tan được chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa".

Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử, đồng chí Nguyễn ái Quốc và Đảng ta đã nhận thức đúng vị trí của vấn đề ruộng đất và vấn đề nông dân ở một nước thuộc địa nửa phong kiến và đặt thành một nhiệm vụ chiến lược gắn liền với nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Cương lĩnh của Đảng đã định hướng đúng cho sự vận động phát triển của cách mạng Việt Nam.

Giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân chính là bảo đảm quyền dân chủ cơ bản về mặt kinh tế của nông dân. Nó không chỉ được thực hiện trong cách mạng dân tộc dân chủ, mà còn được định hướng cho sự phát triển tiếp theo trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Ngay sau khi Đảng ta ra đời, theo phương hướng mà Cương lĩnh vạch ra, một phong trào cách mạng của công - nông dưới sự lãnh đạo của Đảng diễn ra hết sức sôi nổi, đỉnh cao là Xôviết Nghệ Tĩnh. Lần đầu tiên nhân dân ta đã nắm quyền ở một số địa phương, thực hiện ngay những quyền dân chủ đối với nông dân, trong đó có vấn đề ruộng đất cho dân cày.

Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ (1936-1939), Đảng lợi dụng những hình thức hợp pháp, mở rộng hoạt động và ảnh hưởng của mình ở cả thành thị và nông thôn. Đảng đặc biệt quan tâm đến vấn đề nông dân. Tác phẩm Vấn đề dân cày của các đồng chí Trường - Chinh và Võ Nguyên Giáp xuất bản nǎm 1937-1938 đã phản ánh tình cảnh giai cấp nông dân Việt Nam, sự bóc lột tàn bạo của đế quốc và phong kiến đối với nông dân và chỉ rõ: Chỉ có đánh đổ đế quốc và phong kiến thì người nông dân mới chấm dứt được tình cảnh khổ cực của mình.

Từ nǎm 1939 đến nǎm 1945, mục tiêu trực tiếp của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc. Đảng ta chỉ rõ: Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào mục đích ấy mà giải quyết. Vì vậy, Đảng chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng thổ địa để tập hợp lực lượng toàn dân tộc chống đế quốc, phátxít. Đảng ta chỉ rõ: Trong giai đoạn hiện tại ai cũng biết rằng, nếu không đánh đuổi được giặc Pháp - Nhật thì vận mệnh của dân tộc phải chịu kiếp ngựa trâu muôn đời mà vấn đề ruộng đất cũng không làm sao giải quyết được.

Về vấn đề ruộng đất trong thời kỳ này, Đảng nêu khẩu hiệu tịch thu tài sản của bọn phátxít Nhật - Pháp và bọn việt gian, thi hành giảm tô, chia lại công điền theo chương trình của Mặt trận Việt Minh.

Vấn đề ruộng đất được Đảng ta đặt ra ở đây tuy mới chỉ là chủ trương, chính sách, song nói có ý nghĩa thực tiễn là: chủ trương, chính sách đó đã phù hợp với lợi ích của giai cấp nông dân nên đã sớm phát huy tác dụng, phát triển phong trào cách mạng của quần chúng, tạo nên sức mạnh vật chất, góp phần cùng toàn dân tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

2- Thời kỳ 1945-1953

Sau khi giành chính quyền, Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để giữ vững nền độc lập dân tộc. Vấn đề ruộng đất được Đảng đề ra thành một hệ thống các chính sách và từng bước giải quyết ruộng đất cho nông dân, cụ thể là:

Tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp để chia cấp cho nông dân. Tính đến trước cải cách ruộng đất, đã tịch thu 81,3% ruộng đất từ tay thực dân Pháp chia cho nông dân.

Chia cấp lại công điền, công thổ cho nông dân. Tính đến nǎm 1953 đã chia cấp 77,8% ruộng công điền cho nông dân.

Tạm giao ruộng đất của địa chủ, việt gian và địa chủ vắng mặt cho nông dân, 84,7% loại ruộng đất này đã được chia cho nông dân.

Nhà nước đã ban hành sắc lệnh giảm tô 25%, cho nông dân lĩnh canh ruộng đất của địa chủ, thu thuế nông nghiệp (nǎm 1952).

Tính chung lại, đến nǎm 1953 đã có 58,3% tổng số ruộng đất của tư bản Pháp, địa chủ, cùng ruộng công được chia cho nông dân. Kết quả trên đây có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, quyền sở hữu ruộng đất đã thay đổi, từng bước chuyển từ tay giai cấp địa chủ phong kiến và đế quốc sang tay nông dân, thu hẹp thế lực kinh tế và chính trị của chúng, tǎng cường thế và lực của chính quyền cách mạng. Trên cơ sở đó, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, củng cố liên minh công - nông - nòng cốt của mặt trận dân tộc thống nhất, đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi.

3- Thời kỳ 1953-1957

Việc thực hiện từng bước chính sách ruộng đất của Đảng từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến đầu nǎm 1953 đã tạo ra những chuyển biến sâu sắc về sở hữu ruộng đất và quan hệ giai cấp ở nông thôn. Tuy vậy, chế độ chiếm hữu và bóc lột phong kiến chưa bị thủ tiêu, khẩu hiệu "Người cày có ruộng" chưa được giải quyết cǎn bản, giai cấp địa chủ vẫn tồn tại. Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được, Đảng ta tiếp tục tiến hành cải cách ruộng đất, hoàn thành nhiệm vụ chống phong kiến. Hơn thế nữa, sự phát triển của cuộc kháng chiến đến nǎm 1953 đã đi vào giai đoạn quyết định, đòi hỏi cấp thiết phải thực hiện triệt để nhiệm vụ chống phong kiến để bồi dưỡng lực lượng kháng chiến.

Tháng 1-1953, Ban chấp hành trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 4 kiểm điểm chính sách ruộng đất trong kháng chiến và phát động triệt để giảm tô nhằm bước đầu thực hiện yêu cầu về kinh tế của nông dân.

Tháng 11-1953, Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 5 quyết định cải cách ruộng đất, đề ra chủ trương, biện pháp tiến hành cải cách ruộng đất...

Cải cách ruộng đất được thực hiện ngay trong lúc cuộc kháng chiến đang trên thế đi tới thắng lợi. Đó là một chủ trương đúng đắn của Đảng, đã kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Thành quả của nó đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ.

Hoà bình lập lại, miền Bắc bước vào giai đoạn mới, Đảng tiếp tục đẩy mạnh cải cách ruộng đất, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tạo điều kiện cho việc khôi phục và phát triển kinh tế để củng cố miền Bắc làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Kết quả đã phát động quần chúng giảm tô trong tám đợt bao gồm 1875 xã với 1.106.955 hécta ruộng đất, tiến hành cải cách ruộng đất trong 5 đợt bao gồm 3653 xã (toàn bộ vùng đồng bằng và trung du miền Bắc), đã chia 810.000 hécta ruộng đất cho hơn 2 triệu hộ nông dân, tức 72,8% tổng số hộ nông dân ở miền Bắc.

ở miền núi, do những điều kiện đặc thù về kinh tế và xã hội không nằm trong diện cải cách ruộng đất. ở đây, việc hoàn thành cải cách dân chủ được thực hiện kết hợp với cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp vào những nǎm 1959-1961.

Như vậy, thực hiện cải cách ruộng đất, đã xoá bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất và bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến, xác lập quyền sở hữu ruộng đất của nông dân, bước đầu thực hiện dân chủ hoá về mặt kinh tế đối với nông dân - cơ sở của dân chủ về mặt chính trị ở nông thôn. Trên cơ sở đó, nǎng lực sản xuất trong nông nghiệp được giải phóng, sức lao động và ruộng đất của nông dân được gắn với nhau trong quá trình sản xuất.

Trong khi tiến hành cải cách ruộng đất, bên cạnh những thắng lợi cǎn bản, Đảng ta đã phạm một số sai lầm nghiêm trọng trong chỉ đạo thực hiện mà sau một thời gian mới phát hiện được. Do chủ quan, giáo điều, không xuất phát đầy đủ từ thực tiễn nước ta, nên không thấy rõ được những thay đổi quan trọng về sở hữu ruộng đất ở nông thôn Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám, nhất là trong 9 nǎm kháng chiến. Từ đó, trong chỉ đạo tiến hành cải cách ruộng đất đã cường điệu tính chất đấu tranh giai cấp ở nông thôn, dẫn đến mở rộng quá mức đối tượng đấu tranh, gây ra tình trạng đánh nhầm vào nội bộ nông dân, nhất là trung nông lớp trên. Trong chỉnh đốn tổ chức, đã nhận định sai về tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn, cho là bị địch lũng đoạn. Từ đó, trong chỉnh đốn Đảng đã dẫn đến việc xử lý oan những cán bộ, đảng viên tốt. Sai lầm này đã gây ra một số tổn thất cho Đảng.

Việc tổ chức ra một hệ thống tổ chức chỉ đạo cải cách ruộng đất từ Trung ương đến cơ sở tách rời sự chỉ đạo và kiểm soát của các cấp uỷ đảng ở khu, tỉnh, huyện; hệ thống này được giao quyền hạn quá rộng, dẫn đến mệnh lệnh, độc đoán, hạ thấp vai trò lãnh đạo của các cấp bộ đảng, nhiều cán bộ theo đuôi quần chúng, theo lập trường tư tưởng của giai cấp nông dân để giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội nông thôn.

Hội nghị lần thứ 10 (khoá II) của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm trong thực hiện cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công khai tự phê bình và kên quyết sửa chữa sai lầm. Thái độ chân thành của Đảng được nhân dân đồng tình ủng hộ, mặc dù có khó khǎn nhưng chỉ sau hai nǎm việc sửa sai đã hoàn thành, uy tín của Đảng được nâng cao.

Cùng với việc xác lập quyền làm chủ ruộng đất của nông dân, tháng 5-1955, Quốc hội đã ban hành các chính sách kinh tế quan trọng nhằm khuyến khích khôi phục và phát triển kinh tế hộ nông dân, nội dung cơ bản là bảo đảm quyền sở hữu ruộng đất, bảo vệ tài sản của nông dân và các tầng lớp khác, khuyến khích khai hoang phục hoá (khai hoang được miễn thuế 5 nǎm, phục hoá được miễn thuế 3 nǎm), tǎng vụ, tǎng nǎng suất, tự do thuê mướn nhân công, tự do thuê mướn trâu bò, tự do vay mượn, khuyến khích các hình thức đổi công tương trợ, khuyến khích khôi phục các nghề thủ công truyền thống, bảo hộ, khuyến khích, khen thưởng nông dân sản xuất giỏi, nghiêm cấm phá hoại sản xuất...

Vụ chiêm nǎm 1955, Chính phủ ban hành chính sách thuế sửa đổi, giảm bớt mức đóng góp của nông dân, đồng thời miễn thuế cho hộ quá nghèo.

Chính phủ vận động nông dân phát triển chǎn nuôi trâu bò, sửa chữa đê điều, làm thuỷ lợi, khôi phục các hệ thống thuỷ nông.

Như vậy, sau khi được giải phóng khỏi phương thức sản xuất phong kiến, nguyện vọng phát triển kinh tế của nông dân được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm bằng các chính sách phù hợp và được pháp luật bảo hộ, đã làm cho sức sản xuất ở nông thôn nước ta cuối thập kỷ 50 có bước tiến bộ rõ rệt. ở vào thời điểm đất nước vừa trải qua chiến tranh, kinh tế còn nghèo nàn, kỹ thuật còn lạc hậu, quan hệ hợp tác giúp đỡ quốc tế chưa có gì đáng kể, nhưng với hệ thống chính sách đúng đắn, đã đưa lại quyền làm chủ ruộng đất cho nông dân, giải phóng mọi nǎng lực sản xuất trong nông nghiệp, đã tạo ra động lực mới phát triển sản xuất góp phần khôi phục kinh tế và ổn định đời sống nhân dân.

Về kinh tế, tổng sản lượng và thu nhập bình quân đầu người về lương thực đã vượt nǎm 1939 (nǎm cao nhất dưới thời kỳ thực dân Pháp). Động lực của kinh tế hộ nông nghiệp đã được phát huy trong những nǎm trước tập thể hoá nông nghiệp.

4- Thời kỳ 1958-1980

a) ở miền Bắc

Sau thời kỳ khôi phục kinh tế, Đảng chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp bằng hình thức hợp tác xã. Vấn đề ruộng đất được đặt ra và giải quyết thông qua phong trào hợp tác hoá là một nội dung cơ bản của hợp tác xã nông nghiệp. Xác lập chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất gắn liền với tổ chức lao động tập thể trong các hợp tác xã nông nghiệp từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn. Từ đây, kinh tế hộ nông dân bị coi là kinh tế phụ.

Tập thể hoá nông nghiệp được nhân thức là nhằm ngǎn chặn khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa ở nông thôn, tạo ra sự thuần nhất của kinh tế xã hội chủ nghĩa với hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Đảng nhận định: "Chế độ tiểu nông hàng ngày hàng giờ sinh ra chủ nghĩa tư bản" . "Còn chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lối làm ǎn riêng lẻ thì vẫn còn cơ sở vật chất và điều kiện xã hội cho khuynh hướng tư bản chủ nghĩa tự phát nảy nở" . Do đó, phải tiến hành tập thể hoá triệt để ruộng đất, tổ chức lại sản xuất theo hình thức lao động tập thể, chặn đứng con đường tư bản chủ nghĩa ở nông thôn, góp phần củng cố liên minh công nông. Hơn nữa, phải tập trung sức lao động, tư liệu sản xuất của bần nông và trung nông lại để xây dựng một phương thức sản xuất mới, một sự phân công lao động mới.

Từ nhận thức trên đây, Đảng đã đề ra đường lối giai cấp ở nông thôn: "Dựa hẳn vào bần nông và trung nông lớp dưới, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, hạn chế đi đến xoá bỏ sự bóc lột kinh tế của phú nông, cải tạo tư tưởng phú hông, ngǎn ngừa địa chủ ngóc đầu dậy ...".

Nội dung công hữu hoá tư liệu sản xuất trước hết là tập thể hoá triệt để ruộng đất, theo đó là sức lao động và các tư liệu sản xuất khác của nông dân. Ruộng đất tập thể hoá được đặt dưới sự quản lý và sử dụng của ban quản trị hợp tác xã, mà ban quản trị chủ yếu được chọn từ những thành phần bần cố nông.

Thực hiện chủ trương trên đây, Đảng đã phát động một phong trào quần chúng nhằm giải quyết vấn đề "ai thắng ai" giữa lối làm ǎn tập thể và lối làm ǎn cá thể ở nông thôn.

Kết quả, trong hơn một nǎm, từ tháng 4-1959 đến mùa thu 1960, đã tập thể hoá 76% diện tích ruộng đất canh tác của 2,4 triệu hộ nông dân, chiếm 84,8% tổng số hộ nông dân miền Bắc.

Vào thời điểm nông dân đang phấn khởi với các chính sách khuyến nông của Đảng và Chính phủ, lợi ích kinh tế của hộ nông dân gắn với đất đai đang trở thành động lực kích thích phát triển sản xuất thì chúng ta tiến hành tập thể hoá triệt để ruộng đất, sức lao động, đồng thời đặt trong một cơ chế tổ chức quản lý và điều hành tập trung. Vì vậy, mô hình sở hữu tập thể ngay từ đầu đã mang trong lòng nó những yếu kém, sự gò ép trái nguyên tắc, đã dẫn đến tan vỡ hàng loạt hợp tác xã, hàng vạn nông dân xin ra hợp tác xã , sản lượng lương thực nǎm 1960 giảm một triệu tấn, nǎng suất lúa giảm 200 kg/hécta, lương thực bình quân đầu người giảm từ 333 kg/nǎm 1959 xuống 261 kg/nǎm 1960.

Những yếu kém của mô hình tập thể hoá trên đây trước hết là do vi phạm các nguyên tắc về hợp tác hoá, đã bỏ qua nội dung kinh tế của các nguyên tắc này. Cơ sở kinh tế của nguyên tắc tự nguyện chính là sự xã hội hoá sức sản xuất, trên cơ sở đó xuất hiện nhu cầu hợp tác hoá các hộ nông dân, hợp tác ở những khâu nào có lợi nhất cho phát triển sản xuất. Song, trên thực tế là không nhận thức và cũng không dựa trên tất yếu kinh tế mà chủ yếu là xuất phát từ những tiền đề chính trị, lấy tất yếu chính trị thay cho tất yếu kinh tế để nhanh chóng tạo ra quan hệ sản xuất mà ta cho đó là chủ nghĩa xã hội, đồng nhất hợp tác hoá với tập thể hoá.

Cơ sở kinh tế cǎn bản nhất của nông dân là quyền làm chủ sử dụng ruộng đất. Trong tập thể hoá, chúng ta đã xoá bỏ ngay từ đầu cơ sở kinh tế này.

Do phân phối bình quân, lợi ích kinh tế của nông dân bị vi phạm đã dẫn đến thủ tiêu động lực sản xuất của người lao động.

Mặt khác, do "quản lý là khâu yếu kém nhất, ruộng đất được tập thể hoá nhưng sử dụng không có kế hoạch, dẫn đến cày sâu cấy muộn, bỏ sót ruộng, nǎng suất và sản lượng thấp. Cán bộ quản lý thiếu nǎng lực do trình độ vǎn hoá thấp, không đủ kinh nghiệm quản lý sản xuất, từ đó dẫn đến hiệu quả kinh tế giảm sút, không hơn sản xuất cá thể".

Mô hình sở hữu tập thể có nhiều sai trái, yếu kém, chậm được phát hiện, sửa chữa. Vì vậy, sau ba nǎm xác lập mô hình sở hữu tập thể cho thấy: việc tập thể hoá triệt để ruộng đất tất yếu dẫn đến tập thể hoá triệt để sức lao động và các tư liệu sản xuất khác của nông dân. Cách làm đó đã biến nông dân từ người làm chủ ruộng đất trở thành người làm công cho ban quản trị hợp tác xã - những người chưa đủ khả nǎng và kinh nghiệm quản lý. Trong phương pháp tiến hành tập thể hoá, nông dân từ chỗ là một lực lượng sản xuất xã hội, một tiềm nǎng kinh tế to lớn trở thành đối tượng cải tạo, vì vậy đã triệt tiêu tính nǎng động, sáng tạo của họ trong sản xuất.

Từ nǎm 1961 trở đi, Đảng tập trung củng cố, tǎng cường và mở rộng mô hình sở hữu tập thể, bằng một loạt cuộc vận động ở nông thôn .

Nội dung cơ bản của các cuộc vận động thể hiện trên mấy điểm sau đây:

Một là, mở rộng quy mô sở hữu tập thể về ruộng đất từ thôn lên liên thôn, đỉnh cao là quy mô toàn xã sau Hội nghị nông nghiệp ở Thái Bình tháng 8-1974.

Hai là, xác lập và thực hiện cơ chế quản lý tập trung trong kinh tế nông nghiệp từ vi mô đến vĩ mô.

Về tổ chức sản xuất, chia cắt quá trình sản xuất nông nghiệp ra nhiều công đoạn, đỉnh cao là thành lập các đội chuyên (1976-1980), tiến hành tổ chức lại sản xuất trên phạm vi toàn huyện.

Quản lý và sử dụng ruộng đất tập trung thống nhất theo chế độ sở hữu tập thể. Mọi phân biệt về lợi ích kinh tế trên đất đai đều bị xoá bỏ.

Về phân phối, thực hiện nguyên tắc "trừ lùi" (thuế, quỹ, chi phí sản xuất, các khoản điều hoà...), còn lại chia theo ngày công, bằng hiện vật.

Ba là, cơ chế vận hành của mô hình tập thể hoá triệt để ruộng đất, sức lao động và các tư liệu sản xuất khác của nông dân bằng một bộ máy hành chính hoá, qua nhiều tầng nấc trung gian từ Trung ương xuống tỉnh, huyện, xã và hợp tác xã.

Việc điều hành và quyết định trực tiếp quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm sản phẩm là bộ máy quản lý gồm đủ các phòng, ban, đội, tổ... bộ máy này thoát ly sản xuất trở thành quan liêu hoá, song quyền lực rất lớn, quyết định toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở nông thôn.

Những chủ trương và biện pháp trên đây được triển khai trong đời sống kinh tế xã hội nông thôn miền Bắc suốt 20 nǎm (1960-1980). Tuy nhiên, trong điều kiện lịch sử cụ thể lúc bấy giờ, mô hình sở hữu tập thể cũng đã đưa lại những kết quả nhất định.

Với nền nông nghiệp lạc hậu, thoát thai từ phương thức sản xuất phong kiến, sau nhiều nǎm tập thể hoá, với nguồn vốn của Nhà nước đầu tư, vốn của tập thể và công sức của nông dân, đã xây dựng được một hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật bước đầu rất quan trọng, đặc biệt là hệ thống thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng, phát triển giao thông nông thôn, khai hoang, phục hoá, cảnh quan nông thôn đã có bước thay đổi. Nhiều tiến bộ khoa học - kỹ thuật được áp dụng trong nông nghiệp, làm thay đổi tập quán và phương pháp canh tác cổ truyền, đưa lại nǎng suất cao, nhất là nǎng suất lúa. Trong thời kỳ cả nước có chiến tranh, mô hình tập thể hoá triệt để này đã trở thành một kết cấu kinh tế - xã hội cần thiết góp phần vào ổn định đời sống chính trị, kinh tế, xã hội nông thôn, góp phần to lớn vào việc cung cấp sức người, sức của cho kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực hiện có hiệu quả chính sách hậu phương quân đội. Sự đoàn kết tương trợ, tình làng nghĩa xóm trong nông thôn đã thiết thực cổ vũ, động viên bộ đội trên các chiến trường hoàn thành sự nghiệp vẻ vang giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tuy vậy, xét về bản chất kinh tế, mô hình tập trung cao với các đặc trưng nêu trên có những khuyết điểm nghiêm trọng:

- Quá trình củng cố mô hình này chính là quá trình tách lao động nông nghiệp ra khỏi ruộng đất và sản phẩm cuối cùng, đỉnh cao là thời kỳ 1976-1980 mà hệ quả trực tiếp là làm tha hoá người lao động. Họ chỉ còn cách quay về làm chủ thực sự mảnh đất 5% với kinh tế gia đình.

- Kinh tế hộ nông dân bị hoà tan vào kinh tế tập thể. Các thành viên lao động trong gia đình nông dân bị xé lẻ, phân công vào các đội chuyên hoặc đội cơ bản đặt dưới sự điều hành của bộ máy quản lý tập trung. Chức nǎng kinh tế của hộ gia đình cơ bản bị thủ tiêu, chỉ còn lại chức nǎng xã hội. Lợi ích kinh tế trực tiếp của người lao động bị vi phạm đã làm mất đi sự thiết tha với ruộng đất, làm mất đi bản chất cần cù một nắng hai sương của người nông dân Việt Nam.

- Do cơ chế quản lý tập trung quan liêu, ruộng đất thuộc sở hữu và sử dụng tập thể theo kiểu "cha chung không ai khóc" đã dẫn đến tình trạng vô chủ trong quản lý và sử dụng đất đai, gây ra lãng phí và mất đất đai nghiêm trọng. ở Nam Hà, Thanh Hoá và Hải Hưng mỗi tỉnh mất 2 vạn hécta. Trong 10 nǎm (1961-1971), mỗi tỉnh mất đi diện tích canh tác bằng diện tích hai huyện, còn đất gieo trồng ở miền Bắc mất đi bằng diện tích hai tỉnh .

Tại Hội nghị nông nghiệp ở Thái Bình (tháng 8-1974), đồng chí Lê Duẩn nhận định: Trong thời kỳ 1964-1974, "điều đáng lưu ý là ruộng đất canh tác bị sụt đi khoảng vài chục vạn hécta do xây dựng cơ bản, làm thuỷ lợi, đắp đường. .. Cho nên, dù nǎng suất có tǎng khá, nhưng tổng sản lượng lương thực cũng chỉ xoay quanh một mức nhất định, không tǎng lên được nhiều, trong lúc đó dân số tǎng hơn 4 triệu người".

Theo số liệu của cục quản lý ruộng đất, nǎm 1978 cả nước có 1,4 triệu hécta đất chuyên dùng (dành cho thuỷ lợi, xây dựng cơ bản) chiếm 24% diện tích canh tác. ở các tỉnh phía bắc, đất thuỷ lợi chiếm 9% diện tích canh tác. Một số tỉnh đất hẹp, người đông, diện tích đất loại này lên đến 12% (Thái Bình, Hà Nam Ninh). Song, hiệu quả sử dụng đất làm thuỷ lợi rất thấp, 1 hécta đất làm thuỷ lợi bình quân chỉ tưới được 4,2 hécta diện tích canh tác.

Nếu tính cả những nǎm sau này, do quản lý và sử dụng ruộng đất vô trách nhiệm, trong 5 nǎm (1981-1985), diện tích đất canh tác cả nước mất đi 350.000 hécta (riêng đồng bằng sông Cửu Long 250.000 hécta), tương đương với diện tích trồng lúa của ba tỉnh miền Trung (Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên cộng lại). Đây là chưa tính việc biến đất thổ canh thành thổ cư ở địa phương nào cũng có. Riêng nǎm 1978 gần 7 vạn hécta đất "bờ xôi ruộng mật" biến thành thổ cư.

Những khuyết điểm trên đây đã làm cho sản xuất nông nghiệp phát triển chậm, không ổn định, kéo dài tình trạng tự cấp tự túc. Tiềm nǎng lao động và đất đai khai thác kém hiệu quả. Nhất là những nǎm 1976-1980, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn một cách duy ý chí đã dẫn đến khủng hoảng kinh tế nông nghiệp: sản lượng lương thực suốt những nǎm 1960-1980 trên miền Bắc chỉ đạt bình quân trên dưới 5 triệu tấn/nǎm. Trong những nǎm 1976-1980 sản lượng lương thực cả nước chỉ đạt 13 triệu tấn/nǎm (miền Bắc trên 5 triệu tấn), trong khi đó Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV định ra chỉ tiêu phấn đấu đạt 21 triệu tấn lương thực vào nǎm 1980.

Sản xuất nông nghiệp suy thoái như trên đã đưa đến hệ quả kinh tế là: tập thể quản lý và sử dụng 95% diện tích ruộng đất chỉ đáp ứng được dưới 50% thu nhập của hộ xã viên, còn trên 50% thu nhập của họ phải dựa vào mảnh đất 5% và kinh tế gia đình. Mảnh đất 5% trở thành "mảnh đất thần kỳ". Nǎng suất lúa trên mảnh đất 5% phổ biến đạt 90 đến 100 tạ/hécta, trong khi ruộng đất thuộc sở hữu tập thể thì tối đa mới đạt 50-60 tạ/hécta. Đất 5% có thời kỳ chỉ coi là kinh tế phụ, thậm chí còn hạn chế sự phát triển của nó. Song, trên mảnh đất 5% đã tỏ rõ sức phát triển. ở đây, người nông dân đã kết hợp được những kinh nghiệm ngàn nǎm của ông cha với những tri thức và kỹ thuật mới mà họ có thể sử dụng cùng với sức lực, tâm huyết gắn bó với đất đai. Đất đã không phụ công người, đem lại trên 50% thu nhập cho gia đình họ.

Nguyên nhân ra đời và tồn tại của mô hình tập thể hoá triệt để ruộng đất thể hiện trên mấy điểm sau đây:

Trước hết, do nhận thức đơn giản, giáo điều, duy ý chí về chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa. Cụ thể là: quan niệm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chỉ tồn tại hai hình thức sở hữu: toàn dân và tập thể, và sau này đồng nghĩa với sở hữu nhà nước, từ đó đã nóng vội muốn nhanh chóng xoá bỏ các loại hình sở hữu khác, coi đó là điều kiện tiên quyết để xây dựng chế độ kinh tế mới trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết.

Trong xây dựng kinh tế nông thôn, chỉ tuyệt đối hoá một hình thức tập thể hoá triệt để ruộng đất, theo nó là sức lao động nông nghiệp. Điều này đã làm nghèo đi nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản khoa học và sự liên minh tự nguyện giữa những người lao động tự do thành các hiệp hội.

Từ nhận thức giản đơn như vậy nên đã vận dụng một cách giáo điều học thuyết ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp và nông nghiệp, với mong muốn tạo ra quan hệ sản xuất mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, đi ngược lại quy luật phát triển lịch sử tự nhiên của xã hội và không phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp, một lĩnh vực sản xuất đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt quy luật sinh học.

Thứ hai, mô hình tập thể hoá tập trung cao được xây dựng và củng cố, phần nào do ảnh hưởng của nhân tố quốc tế. Những chương trình đồ sộ của Liên Xô chuẩn bị "đi vào chủ nghĩa cộng sản", rồi "đại nhảy vọt" của Trung Quốc và "Thiên lý mã" của Triều Tiên... đã tác động không nhỏ đến nước ta trong việc hoạch định những chiến lược kinh tế lớn, muốn đi nhanh lên chủ nghĩa xã hội, trong đó có nông nghiệp. Những hình thức kinh tế tập thể ở những nước này, trên thực tế cho thấy là kém hiệu quả, khó đứng vững trước những thách thức, biến động về kinh tế, chính trị, xã hội.

Thứ ba, mô hình sở hữu tập thể với việc tập thể hoá triệt để, tập trung là con đẻ của cơ chế tập trung quan liêu của cả nền kinh tế. Hiện nay, việc xoá bỏ cơ chế này tất yếu phải thay đổi mô hình cũ cả về tổ chức và phương thức hoạt động.

Sau cùng, phải kể đến quy luật chiến tranh. Trong chiến tranh không trực tiếp tạo nên mô hình này, song đã góp phần củng cố nó.

b) ở miền Nam

- Đặc điểm về sở hữu ruộng đất, nông nghiệp, nông thôn miền Nam sau giải phóng 1975.

Trải qua chiến tranh lâu dài và ác liệt, do tác động của chính sách ruộng đất của chính quyền cách mạng và do sự xâm nhập ở mức độ khác nhau của chủ nghĩa thực dân mới từ thời Mỹ - ngụy, vấn đề ruộng đất, nông nghiệp và nông thôn miền Nam sau giải phóng (1975) rất đa dạng và khác nhau giữa các vùng.

Miền Trung là dải đất hẹp, bình quân ruộng đất thấp, trong chiến tranh trở thành vùng tranh chấp ác liệt, nông thôn bị tàn phá nặng nề, nông dân bị đồn xúc, phân tán. Ruộng đất nhiều nơi trở thành vành đai trắng.

Tây Nguyên là vùng núi cao, phần lớn là dân tộc ít người. Cho đến ngày giải phóng, trên vùng đất này tồn tại hai bộ phận kinh tế chủ yếu: kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên mang dấu ấn của cộng đồng các thị tộc mà đơn vị sản xuất chính là các đại gia đình theo chế độ "nhà dài". Kinh tế đồn điền với các vùng cây công nghiệp của tư bản nước ngoài và Việt Nam kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa.

Nam Bộ sau giải phóng có những đặc điểm khác miền Bắc sau hoà bình (1954), khác miền Trung và Tây Nguyên ở cùng thời điểm. ở đây, phương thức sản xuất phong kiến về cơ bản đã bị xoá bỏ, 70% số hộ nông dân là trung nông, chiếm 80% diện tích canh tác. Họ đang trở thành lực lượng trung tâm của sản xuất nông nghiệp ở Nam Bộ. Phú nông và tư sản nông thôn chiếm khoảng từ 1 đến 4% số hộ, sở hữu khoảng 4 đến 7% ruộng đất canh tác, họ vừa kinh doanh trên ruộng đất, vừa kinh doanh dịch vụ. Nǎng lực cơ khí của họ rất lớn và đang trở thành trung tâm dịch vụ kinh tế, kỹ thuật ở nông thôn. Còn lại khoảng 20% số hộ thiếu ruộng hoặc không có ruộng, cộng với hàng triệu nông dân bị chiến tranh xô đẩy vào các khu tập trung, các đô thị sau giải phóng trở về quê cũ. Tình hình đó đặt ra yêu cầu khách quan phải giải quyết vấn đề ruộng đất ở nông thôn sau chiến tranh.

Trung nông hoá phổ biến ở nông thôn Nam Bộ đã mở đường cho sự tiếp thu tiến bộ kỹ thuật . Nhiều vùng nông thôn sức sản xuất phát triển, hình thành sự phân công lao động đa dạng: sản xuất nông nghiệp, kinh doanh dịch vụ, chế biến nông sản, thương nghiệp và lao động tự do. Hệ thống dịch vụ nông nghiệp, sản xuất lưu thông hàng hoá - tiền tệ đã hình thành thông suốt từ thành thị đến thôn ấp và hộ nông dân. Hệ thống này bước đầu đã gắn được nông nghiệp với công nghiệp, sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, thúc đẩy sản xuất phát triển.

Xét về mặt xã hội hoá sản xuất thì đây là bước tiến bộ trong lịch sử sản xuất nông nghiệp ở nước ta, là tiền đề kinh tế hết sức cơ bản để từng bước chuyển nền nông nghiệp Nam Bộ sang sản xuất hàng hoá theo hướng xã hội chủ nghĩa. Những đặc điểm trên đây mang tính khách quan quy định chính sách của Đảng và Nhà nước đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn Nam Bộ trước hết và cǎn bản là vấn đề ruộng đất.

Chủ trương của Đảng về ruộng đất trong những nǎm 1975-1980.

Sau giải phóng (1975), Đảng chủ trương "xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đồng nhất trong cả nước dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất lớn" . Về vấn đề ruộng đất, Đảng chủ trương triệt để xoá bỏ tàn dư bóc lột ruộng đất của địa chủ, phong kiến, tịch thu ruộng đất của bọn phản động ác ôn có nợ máu chia cho nông dân không ruộng và thiếu ruộng; điều chỉnh ruộng đất trong nội bộ nông dân gắn với cải tạo nông nghiệp theo hình thức hợp tác xã; tập thể hoá triệt để ruộng đất và các tư liệu sản xuất của nông dân.

Thực hiện chủ trương trên, kết quả đưa lại ở các vùng không giống nhau.

ở các tỉnh duyên hải miền Trung, đến cuối nǎm 1975 đã thu hồi 125.527 hécta ruộng đất chia cho 2 triệu nông dân. Mức chênh lệch ruộng đất giữa các hộ không đáng kể. Vì vậy, tạo thuận lợi cho quá trình điều chỉnh ruộng đất và tập thể hoá.

ở Tây Nguyên, ruộng đất chủ yếu là quốc gia công thổ và đồn điền. Việc tịch thu đất đai và quốc hữu hoá đồn điền từ tay giai cấp tư sản khá thuận lợi. Sau khi chuyển các đồn điền cây công nghiệp thành nông trường quốc doanh, còn lại một số ruộng được chia cấp tập thể, lập các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất.

ở Nam Bộ, trước hết, là tịch thu ruộng đất của địa chủ, việt gian phản động chia cho nông dân. Vấn đề mới đặt ra là ruộng đất tịch thu được của địa chủ còn lại không nhiều trong khi gần hai triệu người, vốn đang hoạt động trong các lĩnh vực công thương nghiệp (phi nông nghiệp) được coi là đối tượng cải tạo công thương nghiệp phải trở về nông thôn, đòi hỏi có ruộng đất canh tác. Để có ruộng đất cấp cho đối tượng này, phải tiến hành điều chỉnh ruộng đất bằng cuộc vận động "nhường áo sẻ cơm" theo tinh thần Chỉ thị 57 của Bộ Chính trị (tháng 1-1978). Thực chất là cắt đất của 10% số hộ trung nông khá giả để chia bình quân cho người không có ruộng.

Tiếp theo, thực hiện Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm trong nông nghiệp (tháng 1-1981) và Chỉ thị 19 (tháng 5-1993) về điều chỉnh ruộng đất và cải tạo nông nghiệp Nam Bộ của Ban Bí thư trung ương, tiếp tục điều chỉnh ruộng đất của 40% số hộ trung nông có ruộng đất cao hơn mức bình quân ở địa phương.

Trong quá trình tập thể hoá, đã coi việc phân biệt lợi ích kinh tế trên đất đai của hộ nông dân là không cần thiết, nên dẫn đến tình trạng cắt đất xâm canh và xáo canh diễn ra hết sức phức tạp ở nông thôn Nam Bộ.

Như vậy, sau giải phóng, giải quyết vấn đề ruộng đất ở miền Nam đã đưa lại kết quả nhất định là hoàn thành cách mạng ruộng đất, xoá bỏ chế độ chiếm hữu và bóc lột của đế quốc và địa chủ phong kiến trên phạm vi cả nước.

Nhưng bên cạnh thắng lợi đó, trong điều chỉnh ruộng đất gắn liền với tập thể hoá, chúng ta đã mắc những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng:

Trước hết, việc điều chỉnh ruộng đất theo cách làm trên, đã vi phạm lợi ích của nông dân, đặc biệt là trung nông - nhân vật trung tâm của sản xuất nông sản hàng hoá ở Nam Bộ, những người có vốn, lao động và kinh nghiệm sản xuất, đại biểu cho lực lượng sản xuất đang phát triển ở nông thôn.

Thứ hai, việc điều chỉnh ruộng đất nhiều lần dẫn đến bình quân, xoá xâm canh, gây ra xáo canh, làm cho quá trình sản xuất hàng hoá và phân công lao động bị biến động lớn. Trên thực chất là đi ngược lại quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất, vốn là tư liệu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá. Nhiều nơi còn chia ruộng đất cho cả những người hoạt động trong các lĩnh vực phi nông nghiệp, mà việc họ tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp lại chính là kết quả tiến bộ của quá trình phân công lao động xã hội. Dù không tự giác, chúng ta làm lại cái đã qua về mặt lịch sử phát triển.

5. Thời kỳ từ nǎm 1981 đến nay.

a) Từng bước khôi phục kinh tế hộ nông dân.

Kinh tế hộ nông dân được khôi phục bằng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, thực chất là khoán hộ.

Khoán hộ trải qua những bước thǎng trầm. Từ nǎm 1962, khoán hộ đã xuất hiện trên đồng đất Đồ sơn (Hải Phòng) và sau đó ở Vĩnh Phú (1966). Do nhận thức chưa đổi mới nên khoán hộ không được thừa nhận, phải đến những nǎm 1977-1980, khi nền nông nghiệp lâm vào tình trạng khủng hoảng thì "khoán chui" xuất hiện phổ biến ở nhiều địa phương trên miền Bắc.

Qua tổng kết thực tiễn trên, ngày 13-1-1981, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, thường gọi tắt là khoán 100.

"Khoán chui", một mặt, phản ánh sự bắt đầu đổ vỡ khó tránh khỏi của mô hình tập thể hoá triệt để ruộng đất, sức lao động và tư liệu sản xuất khác của nông dân; mặt khác, phản ánh tính tất yếu kinh tế - khôi phục lại chức nǎng kinh tế hộ nông dân. Khoán 100 bước đầu đáp ứng được yêu cầu khách quan này.

Nội dung cơ bản của khoán 100 thể hiện trên mấy điểm:

Mục đích: phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, nǎng suất lao động, nâng cao thu nhập của người lao động.

Nguyên tắc: quản lý và sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất, trước hết là ruộng đất, quản lý và điều hành lao động phải trên cơ sở gắn với kết quả cuối cùng của sản xuất, thực hiện khoán theo 5 khâu và 3 khâu; trong phân phối giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích người lao động.

Phạm vi: áp dụng đối với mọi loại cây trồng và vật nuôi.

Khoán 100 đã đưa lại tác dụng phân chia lại chức nǎng kinh tế giữa tập thể và hộ gia đình cả về quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và phân phối, mở đầu cho quá trình dân chủ hoá về mặt kinh tế, bằng việc gắn bó trở lại lao động với ruộng đất, mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân, tạo ra động lực kích thích phát triển sản xuất. Xét về mặt cơ chế quản lý kinh tế, khoán 100 đã phá vỡ cơ chế tập trung quan liêu trong sản xuất nông nghiệp. Trong thời gian đầu, khoán 100 đã có tác dụng làm sống động nền kinh tế nông thôn và tạo ra một khối lượng nông sản lớn hơn so với thời kỳ trước.

Tuy vậy, khoán 100 cũng chỉ có tác dụng trong một thời gian, sau đó giảm dần vì cơ chế tập trung quan liêu vẫn còn được duy trì trong hợp tác xã, cũng như toàn bộ hệ thống tái sản xuất xã hội trong nông nghiệp. Hệ thống này cùng tính chất mệnh lệnh hành chính, mà hậu quả của nó đè lên vai người nông dân, trước hết là hộ nhận khoán. Hộ nông dân không đủ khả nǎng bảo đảm tái sản xuất và nhu cầu đời sống nên đã phải trả lại bớt ruộng đất.

Trước đòi hỏi của cuộc sống, nhiều cấp uỷ đảng ở địa phương đã chủ động chuyển sang khoán gọn và sau đó được Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4-1988) xác nhận và thường gọi là khoán 10. Cùng với việc thực hiện khoán 10 là sự đổi mới toàn bộ cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, đổi mới hoạt động kinh tế - xã hội ở nông thôn. Từ đây, chức nǎng kinh tế của hộ nông dân được xác lập trở lại. Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá VI) tháng 3-1989 và Đại hôi đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng khẳng định hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất hàng hoá. Đổi mới hình thức và nội dung hoạt động của các hợp tác xã nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm nǎng kinh tế hộ nông dân và nông nghiệp, từng bước chuyển nền kinh tế tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

III. MẤY KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT

1- Vấn đề ruộng đất cần được giải quyết từng bước phù hợp với sự phát triển của cách mạng và lợi ích của nông dân


a) Nhận thức đúng vị trí của vấn đề ruộng đất và lợi ích của người nông dân trong từng thời kỳ cách mạng để đề ra chính sách ruộng đất phù hợp với thực tiễn.

Ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt không thay thế được đối với sản xuất nông nghiệp, là yêu cầu cơ bản và cấp thiết của nông dân trong mọi thời kỳ cách mạng. Giải quyết vấn đề ruộng đất và nông dân không chỉ mang ý nghĩa chính trị, mà còn mang ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng đối với sự phát triển của cách mạng.

Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng giải quyết vấn đề ruộng đất và nông dân nhằm tập hợp lực lượng chính trị, tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân, nòng cốt là liên minh công - nông, để tiến hành đấu tranh giành độc lập dân tộc. Mặt chính trị của vấn đề ruộng đất và nông dân được đặt lên hàng đầu. Chủ trương của Đảng ta trong thời kỳ này là tịch thu ruộng đất của đế quốc, địa chủ và việt gian chia cho dân cày. Tư tưởng cơ bản của chủ trương trên là nhằm đoàn kết các tầng lớp, các giai cấp trong xã hội, đoàn kết với cả một bộ phận địa chủ có tinh thần yêu nước. Nhờ đó, Đảng đã tập hợp xung quanh mình một lực lượng chính trị, xã hội rộng lớn, nhân sức mạnh của giai cấp công nhân lên gấp bội, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giải phóng dân tộc.

Mặt kinh tế của vấn đề ruộng đất và nông dân được giải quyết thành công ở chỗ gắn liền với nhiệm vụ chính trị. Khẩu hiệu "Người cày có ruộng" và chính sách cải cách ruộng đất thực chất mang nội dung kinh tế, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của nông dân, đồng thời có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Vấn đề ruộng đất đã có sức lôi cuốn, động viên nông dân tham gia kháng chiến, tǎng cường và củng cố liên minh công - nông và mặt trận dân tộc thống nhất. Trên cơ sở đó, Đảng lãnh đạo toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ cách mạng.

Trong xây dựng đất nước, giải quyết vấn đề ruộng đất trước hết phải đáp ứng được lợi ích kinh tế của nông dân, phải đặt lợi ích kinh tế của nông dân lên hàng đầu. Chính trị phải thể hiện được yêu cầu kinh tế ấy, và chỉ khi đó chính trị mới có sức mạnh to lớn. Mối quan hệ biện chứng này được thể hiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh: nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì.

Về vấn đề ruộng đất, chủ trương của Đảng là nhằm giải phóng toàn bộ nǎng lực sản xuất trong nông nghiệp bằng việc thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, coi đó là vấn đề chiến lược có ý nghĩa lâu dài và là quy luật chuyển nền kinh tế tự cấp tự túc sang kinh tế hàng hoá. Phải xuất phát từ lợi ích của nông dân và quyền làm chủ thực sự của nông dân giải quyết vấn đề ruộng đất. Nếu trong đấu tranh giải phóng dân tọc, nông dân là một lực lượng chính trị - xã hội hùng hậu, thì trong xây dựng đất nước, nông dân là một lực lượng kinh tế to lớn góp phần quyết định vào việc thực hiện chiến lược kinh tế trong chặng đầu thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

b) Cách mạng phát triển đến đâu thì vấn đề ruộng đất được giải quyết đến đó, tạo điều kiện cho bước phát triển mới của cách mạng.

Vấn đề ruộng đất được Đảng ta coi là yêu cầu cơ bản của nông dân. Ngay các vǎn kiện của Đảng trong thời kỳ giải phóng dân tộc (1930 - 1945), Đảng chủ trương thực hiện một bước yêu cầu đó là tịch thu ruộng đất của đế quốc, phátxít và địa chủ phản đông chia cho nông dân. Trong kháng chiến chống Pháp, vấn đề ruộng đất được thực hiện ngày càng nhiều hơn nhằm thu hẹp thế lực của đế quốc, phong kiến, bồi dưỡng lực lượng kháng chiến. Khi kháng chiến đã giành được thắng lợi quyết định, vấn đề ruộng đất được giải quyết một cách triệt để bằng cải cách ruộng đất, đưa lại quyền làm chủ ruộng đất cho nông dân và giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp.

Đảng giải quyết thành công nhất vấn đề ruộng đất trong thời kỳ giải phóng dân tộc và thời kỳ kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhưng trong thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1980), đã phạm một số sai lầm về chỉ đạo chiến lược. Cụ thể là chủ quan, nóng vội trong cải tạo nông nghiệp, tiến hành công hữu hoá và tập thể hoá ruộng đất một cách triệt để, tách ruộng đất ra khỏi lao động và quyền làm chủ của người nông dân, triệt tiêu động lực sản xuất, dẫn đến khủng hoảng kinh tế nông nghiệp trong những nǎm 1976-1980.

Từ nǎm 1981 đến nay, trở lại tiếp cận thực tiễn, tiếp cận quy luật khách quan, Đảng lãnh đạo từng bước đổi mới chính sách kinh tế nông nghiệp, trước hết là chính sách khuyến khích phát triển kinh tế hộ nông dân, nên đã tạo ra bước phát triển mới trong sản xuất nông nghiệp.

2- Giải quyết vấn đề ruộng đất phải nhằm mục tiêu giải phóng sức sản xuất, phát triển sản xuất hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Giải quyết vấn đề ruộng đất phải nhằm khai thác có hiệu quả tiềm nǎng kinh tế trong nông nghiệp, trước hết phải gắn được lao động với đất đai trong tất cả các thành phần kinh tế. Muốn làm được như vậy phải thực hiện dân chủ hoá về kinh tế đối với nông dân, xác lập và thể hiện được trong thực tiễn quyền làm chủ của nông dân đối với ruộng đất.

Trên cơ sở dân chủ hoá về kinh tế, hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ để xây dựng chế độ hợp tác vǎn minh. ở đây, cần hiểu chế độ hợp tác mới trong nông nghiệp bao hàm các loại hình, trình độ tổ chức, liên kết giữa các hộ nông dân, các thành phần kinh tế trên cơ sở tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi và nhằm phát triển sản xuất hàng hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế và không ngừng cải thiện đời sống nhân dân lao động ở nông thôn. Nói một cách khác, chế độ hợp tác mới mang tính đa dạng về hình thức, về quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối, phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến nǎm 2000, Đảng ta đã khẳng định: "Kinh tế tập thể, với hình thức phổ biến là hợp tác xã, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, phát triển rộng rãi và đa dạng trong các ngành, nghề với quy mô và mức độ tập thể hoá khác nhau, trên cơ sở tự nguyện góp vốn, góp sức của những người lao động. Tổ chức và hoạt động của các hợp tác xã không phụ thuộc vào địa giới hành chính. Một hộ gia đình có thể tham gia các hợp tác xã khác nhau và có quyền rút ra khỏi hợp tác xã theo điều lệ".

Trong chế độ hợp tác, kinh tế hộ là tế bào của kinh tế hợp tác, ở đây kinh tế hộ không hoà tan vào kinh tế hợp tác như trước đây mà là một đơn vị kinh tế tự chủ được phát huy sở trường và khả nǎng của mình trong sản xuất - kinh doanh. Sự phát triển của kinh tế hộ là điều kiện tồn tại cho kinh tế hợp tác. Ngược lại, kinh tế hợp tác chỉ có giá trị đích thực trên cơ sở những tất yếu kinh tế đòi hỏi phải có sự phân công và hợp tác của nhiều hộ mới có hiệu quả. Kinh tế hợp tác không bao trùm lên kinh tế hộ, mà hợp tác ở những khâu nào đó đòi hỏi phải có sức mạnh của kinh tế tập thể kinh doanh chung mới đem lại hiệu quả. Đây là mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau của quá trình phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, củng cố quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, nâng cao đời sống nông dân và xây dựng nông thôn mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng khẳng định: "ở nông thôn, trên cơ sở tǎng cường vai trò đơn vị kinh tế tự chủ của hộ xã viên, các hợp tác xã hướng hoạt động vào những khâu và lĩnh vực mà hộ xã viên không có điều kiện tự làm hoặc làm kém hiệu quả hơn kinh doanh tập thể. Cùng với chính quyền và các đoàn thể chǎm lo các vấn đề xã hội và xây dựng nông thôn mới".

Muốn làm như vậy, kinh tế hộ gia đình phải trở thành kinh tế hàng hoá, khác về chất so với kinh tế cá thể tự cung tự cấp trước đây. Vì vậy, vấn đề ruộng đất đặt ra phải tuân theo quy luật tích tụ và tập trung ruộng đất vào tay những người làm ruộng giỏi mới giải quyết được mâu thuẫn giữa việc phân phối và sử dụng ruộng đất manh mún, bình quân, với yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp. Trong điều kiện ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân được Nhà nước giao cho hộ nông dân sử dụng lâu dài thì việc thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng ruộng đất có thể hiểu ra là lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh làm chính. Đây là một quá trình lịch sử tự nhiên dựa trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và sự tiến bộ của phân công lao động xã hội trong lĩnh vực nông nghiệp. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng chỉ rõ: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Các hộ nông dân được Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và cấp giấy chứng nhận. Luật pháp quy định cụ thể việc thừa kế và chuyển quyền sử dụng ruộng đất".

3- Đổi mới quản lý vĩ mô của Nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân thành đơn vị sản xuất hàng hoá.

Bản thân nền kinh tế nông nghiệp, trong đó kinh tế hộ nông dân là cơ bản, tự nó không thể chuyển sang sản xuất hàng hoá được mà phải có sự quan hệ thúc đẩy, hỗ trợ của các ngành kinh tế kỹ thuật khác. Phải đặt vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, trên cơ sở đó, Nhà nước với tư cách là người quản lý và điều hành vĩ mô gắn phát triển nông nghiệp với phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Đây là nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình thúc đẩy sự ra đời và phát triển phân công lao động trong nông nghiệp, công nghiệp hoá nông thôn và xây dựng nông thôn mới theo hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng chỉ rõ: "Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội".

Để thúc đẩy quá trình này, trước hết cần quan tâm hình thành các điểm kinh tế - kỹ thuật, các thị trấn, thị tứ ở nông thôn theo quy hoạch hợp lý. Các điểm kinh tế, kỹ thuật sẽ là môi trường và điều kiện kích thích sản xuất hàng hoá và phân công lại lao động nông nghiệp, trở thành "động lực" thúc đẩy kinh tế, vǎn hoá, xã hội nông thôn phát triển.

Sự phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp đối với kinh tế hộ nông dân trước hết cần phải có sự đầu tư của Nhà nước trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng để mở mang giao lưu kinh tế, tạo điều kiện kích thích sản xuất hàng hoá phát triển. Sự tài trợ của Nhà nước là điều kiện hết sức cơ bản trong quá trình chuyển kinh tế hộ tự cấp tự túc sang kinh tế hàng hoá. Vì vậy, cần có hệ thống ngân hàng tín dụng nông nghiệp với cơ chế kinh doanh mới theo hướng thúc đẩy sự phân công lao động ở nông thôn, phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp. Nhà nước phải đổi mới cơ chế chính sách để tạo ra môi trường và điều kiện cho kinh tế hộ và kinh tế hợp tác phát triển.

 In bài

 Bài cùng chuyên mục:

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ - Nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam

Xuất bản cuốn sách "lịch sử đảng bộ miền Đông Nam bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ"

Kinh nghiệm đoàn kết, hợp tác quốc tế của cách mạng Việt Nam

Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và cương lĩnh đầu tiên của Đảng

Kinh nghiệm xây dựng lực lượng cách mạng và khởi nghĩa giành chính quyền

Giữ vững chính quyền cách mạng trong những năm 1945 - 1946

Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống tực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1946 - 1954)

Kinh nghiệm lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)

Kinh nghiệm giải quyết vấn đề ruộng đất trong cách mạng Việt Nam

Đảng thực hiện chuyển giai đoạn cách mạng -Chặng đầu thời kỳ quá độ lên CNXH

Trang trước | Trang tiếp | Về đầu trang

 Các tin/bài mới nhất:

Bạo hành trẻ em - Tất cả chúng ta phải chịu trách nhiệm

Bạo hành trẻ em - Tất cả chúng ta phải chịu trách nhiệm

Bạo hành trẻ em - Tất cả chúng ta phải chịu trách nhiệm

Phát huy hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân vào cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Phát huy hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân vào cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Kỷ niệm 50 năm thành lập, Nhà xuất bản Giáo dục đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh

Kỷ niệm 50 năm thành lập, Nhà xuất bản Giáo dục đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh

Truy tặng Huân chương Sao Vàng cho hai đồng chí Hồ Tùng Mậu và Nguyễn Văn Lộc

Truy tặng Huân chương Sao Vàng cho hai đồng chí Hồ Tùng Mậu và Nguyễn Văn Lộc

Quận 3 TP Hồ Chí Minh đổi mới phương pháp học tập nghị quyết

Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 52 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 157/GP-BVHTT ngày 01/12/2005 của Bộ Văn hoá - Thông tin về cung cấp thông tin lên mạng Internet