Ủng hộ Văn Tuyển bằng Paypal

 Lê Duẩn, một Tần Thủy Hoàng hoang dâm vô độ - Chưa rõ Tác Giả
 Viết Về Chủ Tịch Hồ Chí Minh - Phương Nam
 Tiếu Lâm ... HỒ - Nhiều Tác Giả
 Chuyện Kể Hành Trình Biển Đông - Nhiều Tác Giả
 Ngày bỏ nước ra đi… - Huy Lực Bùi Tiên Khôi
 Tru Tiên - Tiêu Đỉnh
 Sử Nhạc - Ngô Nguyễn Trần, Tâm Thơ
 Vĩnh biệt Tổng thống Gerald R. Ford - Huy Lực Bùi Tiên Khôi
 Summa Cum Laude - Huy Lực Bùi Tiên Khôi
 Bản chất nông dân trong văn chương và cuộc đời: Coetzee giải Nobel 2003 - Huy Lực Bùi Tiên Khôi
 Anh Ngữ Tại Hoa Kỳ - Huy Lực Bùi Tiên Khôi
 HUY-LỰC BÙI TIÊN KHÔI - Huy Lực Bùi Tiên Khôi
 Vài kỷ niệm văn chương - Huy Lực Bùi Tiên Khôi
 Tầm Tần Ký - Huỳnh Dị
 Bộ Tranh Bích Chương "Sử Nghìn Người Chép" - Nguyễn Hữu Nhật




VanTuyen.net_______
Tac pham: 22784
Trang: 70149
Tac gia: 5527



Bần cố nông Biên khảo Cổ tích Chuyện lạ Danh nhân English Française Gia đình Giai thoại Giảm...sì trét! Giới thiệu Học làm người Hồi ký Huyền bí Hương vị Ký sự /Tạp ghi Khoa học Kiếm hiệp Kiến thức phổ thông Lịch sử Phát thanh Phê bình Phiếm Sân khấu Sức khoẻ Tài liệu Tác giả Tùy bút/Tản mạn/Tiểu luận Tấm lòng VÀNG Thời chinh chiến Thơ Thơ nhạc Thương Tiếc Tin học Trung hoa Truyện dài Truyện ngắn Vọng cổ Điểm nóng


vantuyen.net xin giới thiệu đến bạn đọc: Sau Cơn Mưa
Thể loại: Thời chinh chiến
Tác giả: Lê Bá Thông

Server của vantuyen.net hiện nay được thuê theo tháng. Vì vậy BBT vantuyen.net vẫn mong được sự hổ trợ của bạn đọc hảo tâm giúp đở tài chánh để vantuyen.net luôn có mặt trên mạng lưới toàn cầu. Xin đa tạ!

 

Ngữ Pháp Tiếng Việt của Đắc Lộ 1651

» Tác giả: Nguyễn Khắc Xuyên
» Dịch giả:
» Thể lọai: Biên khảo
» Số lần xem: 9849

1. 1

Để kỉ niệm 400 năm sinh nhật Đắc Lộ 1593-1993


LỜI TỰA


Cuốn Ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên do Đắc lộ cho in tại Rôma năm 1651, cho tới nay, chưa được phổ biến. Chỉ mới có một vài bài tham khảo sơ bộ và một bản dịch cùng in với Từ điển năm 1991. Chúng tôi chia bài tham luận của chúng tôi làm ba phần. Trong phần thứ nhất, chúng tôi giới thiệu cuốn sách. Chúng tôi chủ í xem tác giả đã soạn cuốn sách thế nào, đã theo thứ tiếng, thứ cung giọng nào, khi ông được học hỏi và ghi nhận. Chúng tôi cũng để í xem ông ấn định vần quốc ngữ tiên khởi thế nào, đã sử dụng vần tiếng la tinh và nhất là vận dụng nó vào vần quốc ngữ của chúng ta như thế nào, những gì ông đã sử dụng, những gì ông phải sáng chế ra cho đủ kí hiệu để viết tiếng Việt. Đó là phần một. Tới phần hai, chúng tôi soạn Từ điển cuốn Ngữ pháp. Vì Ngữ pháp là một trong ba cuốn quốc ngữ đầu tiên, là hiến chương chữ quốc ngữ, cho nên những từ ngữ ghi trong đó rất quí đối với chúng ta ngày nay và cả mai sau, khi phải tìm tới tận nguồn cội thứ chữ này. Những gì ông viết trong Ngữ pháp, thì ông đem ra thí nghiệm, thực hành ngay. Do đó, nó giúp chúng ta hiểu thêm khi đọc Phép Giảng hay Từ điển Việt Bồ La. Phần ba là nguyên văn dịch từ tiếng La tinh cuốn Ngữ pháp. Đáng lí ra, Chúng tôi có thể lấy bản dịch đã in trong Từ điển tái bản năm 1991. Nhưng chúng tôi dịch lại để dễ bề cho phổ biến và nhất là thêm đôi lời chú thích. Trong những lời giải thích này, chúng tôi sử dụng Nam Việt Dương hiệp tự vị , Taberd (1838), Việt Nam Tự điển, Khai Trí Tiến Đức (1942) , Việt Nam Tự điển của Lê Văn Đức (1970) và Từ điển tiếng Việt (1988). Chúng tôi cũng cho in lại bản chụp nguyên văn bằng tiếng la tinh của cuốn Ngữ pháp, để chúng ta nhìn tận mắt, sờ tận tay một bản văn cổ đã có từ gần ba thế kỉ rưỡi nay. Chúng ta sẽ thấy chữ quốc ngữ ở đó viết thế nào, hình thái và cung giọng ra sao. Như vậy chúng ta sẽ biết đích xác hơn, minh bạch hơn, tránh hồ đồ, tránh tam sao thất bản.


Phần một


Giới thiệu Ngữ pháp


1,1.- Một chút lịch sử: Cristophoro Borri 1621,1631.


Năm 1615, giáo sĩ Dòng Tên Buzomi, người Ý tới Đàng Trong. Ông thông thạo tiếng Nhật và trước đây ông chủ í đi Nhật, nhưng vì có cuộc cấm đạo rất ngặt, nên ông được Bề trên phái qua Việt Nam mở một vùng hoạt động mới. Vì tuổi đã cao, nên ông không học tiếng cho thật thông thạo được, ông vẫn phải giảng qua trung gian các thông ngôn người Việt. Năm 1617, De Pina, người Bồ được phái tới phụ tá với Buzomi. Pina cũng đã tinh thông tiếng Nhật với mục đích đi Nhật, nhưng cũng vì lí do cấm cách, ông được chuyển qua Việt Nam. Vì còn trẻ, lại có khiếu học sinh ngữ, cho nên Pina học rất thông thạo. Ông đã có thể giảng trực tiếp mà không cần tới thông dịch viên. Năm 1618, khi Borri người Ý tới thì đã thấy Pina rất giỏi tiếng Việt và giảng hoàn toàn bằng tiếng Việt mà không cần người thông dịch. Borri viết sách khen Pina hết lời. Còn Borri thì tuy cũng nói được, nhưng nếu phải giảng giải dài hơi thì vẫn còn ngắc ngứ. Chính Borri thú nhận như vậy. Năm 1624, khi Đắc lộ tới Đàng Trong, thì cũng đã thấy Pina rất thông tiếng Việt. Đắc lộ rất kính phục và cho Pina là người ngoại quốc đầu tiên, giáo sĩ ngoại quốc đầu tiên giảng tiếng Việt mà không cần trung gian. Pina lại còn là thày dạy Đắc lộ học tiếng. Năm 1621, khi Gaspar Luis người Bồ, theo các bản điều trần từ Đàng Trong gửi về Ma cao, viết bản Tường trình về Rôma thì ông đã nói: ở Đàng Trong người ta đã soạn cuốn Iếu lí bằng tiếng Đàng Trong. Hẳn có bản bằng chữ nôm và cũng có bản bằng quốc ngữ đang hình thành. Cũng năm 1621, Borri soạn bài Tường trình dài hơi nói về việc truyền giáo ở Đàng Trong. Bản Tường trình này viết bằng tiếng Ý và năm 1631 được xuất bản ở Ý bằng tiếng Ý và ở Pháp bằng tiếng Pháp. Tác phẩm của Borri cho biết lần đầu tiên về việc học hỏi tiếng Việt thuở ban đầu như thế nào và kết quả ra sao. Có ba điều, thứ nhất, theo mấy giòng chữ viết trong cuốn sách, chúng ta thấy có khuynh hướng phiên âm tiếng Việt theo tiếng Ý, có thể vì Borri là người Ý. Cho nên chúng ta thấy ghi sc = x, gn = nh, như chúng ta sẽ thấy ngay sau đây. Thứ hai, Borri là người đầu tiên viết thành câu văn, lời nói có mệnh đề mạch lạc, chứ không phải chỉ ghi nhân danh, địa danh hoặc những chữ lẻ tẻ. Đây là những câu ông viết. Tiếc rằng về các dấu, vì bên Âu châu lúc đó chưa đúc để in, nên chúng ta hầu như không biết gì về các dấu, chứ chưa phải là những người đầu tiên chưa biết cách ghi các dấu.


- Con gnoo muon bau tlom laom Hoalaom chiãm (Con nhỏ muốn vào trong lòng Hoalang chăng ?)


- Muon bau tlom laom Hoalaom chiam ? (Muốn vào trong lòng Hoalang chăng ?)


Về sau người ta đã đổi câu nói thành:


- Muon bau dau chistiam chiam ? (Muốn vào đạo christiang chăng ?) Đạo Hoa Lang tức đạo người Bồ. Từ lâu người ta vẫn gọi người Bồ là người Hoa Lang hay Pha Lang, hoặc Phất Lang. Người Trung Hoa đọc Pha hay Hoa, theo chữ Hán thì lại thành Phất. Marini trong Tường trình viết "Pha lang quỉ", Đắc lộ trong Phép giảng ghi đạo Pha lang. Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa viết Phất lang. Còn Borri lại ghi Hoa Lang.


Đó đây trong Tường trình, còn thấy ghi mấy câu nói nơi dân gian như onsai di lay (ông sãi đi lại), tui ciam biet ( tui chẳng biết), sin mocaii ( xin một cái), hay scin mocaii ( xin một cái), doii (đói).


Thứ ba, Borri nhắc tới ngữ pháp tiếng Việt, và lần đầu tiên, khi ông cho biết : "Tiếng Đàng Trong, theo tôi, là một tiếng dễ hơn các tiếng, bởi vì không có chia các động từ, không có biến cách các danh từ, nhưng chỉ có một tiếng hay lời, rồi thêm vào một phó từ hay đại từ để biết về thời quá khứ, hiện tại hay tương lai, về số ít hay số nhiều.” (Borri Sd tr. 73-74). Ông còn trưng ra một thí dụ lấy ở động từ , tiếng Pháp là avoir. Theo ông nhận xét, người Pháp nói J’ai, tu as, il a, thế mà tiếng Việt vẫn chỉ nói, không thay đổi chữ là tôi có, mày có, nó có. Kết luận theo ông, tiếng Việt rất dễ học, cho nên chỉ mất sáu tháng là có thể nói được rồi, thế nhưng ông lại thêm: muốn thông thạo hoàn toàn thì phải để ra bốn năm (Borri, sd tr.74). Tiếc rằng Borri không tiếp tục viết về tiếng Việt, cũng như Pina, người thứ nhất tinh thông tiếng Việt ngay từ những năm 1618,1621,1624 ở Đàng Trong, Pina không để lại một bút tích nào và ông cũng mất sớm, chết đuối ở cửa biển Hội An năm 1625. Rồi từ Borri cho tới Đắc lộ không thấy nói tới Ngữ pháp. Như trên chúng tôi đã nhắc từ 1621 đã có cuốn Iếu lí, rồi Maracci năm 1651, có đề cập tới cuốn Từ vựng do Gaspar Luis soạn, nhưng tuyệt nhiên không thấy nói tới Ngữ pháp cho tới Đắc lộ.


1, 2.- Ngữ pháp tiếng Việt của Đắc lộ 1651


Vậy như thế là mãi cho tới 1651 mới thấy có Ngữ pháp, mặc dầu từ 1615 người ta đã học tiếng Đàng Trong và từ 1630, người ta đã học tiếng Đàng Ngoài. Cuốn sách hết sức khiêm tốn, viết bằng tiếng la tinh dầy 31 trang giấy khổ thông thường, nhưng rất súc tích. Nó thường được đóng liền với Từ điển, hoặc trước hoặc sau. Chúng tôi đã được đọc cả hai khi làm việc ở các thư viện Rôma, và hiện nay chúng tôi có cả hai cuốn sách, một đóng trước và một đóng sau Từ điển. Do đó mà người ta cho như một thứ nhập môn vào Từ điển, chứ không phải là cuốn Ngữ pháp. Chúng tôi có mấy lí do coi đó là cuốn riêng biệt.


Thứ nhất, tại Văn khố thánh bộ Truyền bá Đức tin, có một tài liệu từ năm 1652, trong đó thánh bộ ghi: cha Alexandre de Rhodes đã làm đơn thỉnh cầu thánh bộ trợ cấp cho 300 đồng êcu để chi dụng cho mình và cho người đồng sự của mình trong thời gian sống ở Rôma để trông coi việc ấn hành ba cuốn sách: cuốn Iếu lí (Phép Giảng tám ngày), cuốn Tự điển và cuốn Ngữ pháp bằng tiếng Đàng Ngoài. Văn kiện này thảo bằng tiếng Ý và viết Grammatica, Dittionario e Catechismo nella lingua del Tonchino (Ngữ pháp, Tự điển và Iếu lí bằng tiếng Đàng Ngoài, Arch. Pro. SRCG vol 193, 524).


Thứ hai, năm 1653, trong cuốn Hành Trình và Truyền giáo viết bằng tiếng Pháp, xuất bản ở Paris, tác giả cũng nói tới ba cuốn sách đó như sau: " Từ ngày tôi trở về Âu châu, tôi đã cho in ở Rôma, nhờ các vị ở bộ Truyền bá Đức tin: một tự vị tiếng Đàng Trong, latinh và Bồ, một cuốn ngữ pháp và một cuốn Iếu lí.” Chỉ có một điều hơi khác với tài liệu vừa kể ở trên, đó là trong Hành trình, ông nói "tự vị tiếng Đàng Trong " ( dictionnaire cochinchinois), hơn nữa ông nói tự vị tiếng Đàng Trong, latinh, Bồ (dictionnaire cochinchinois, latin et portugais).Thực ra là Việt Bồ La, chứ không phải Việt La Bồ. Nhưng đây là việc nhỏ mọn, không đáng kể. Việc chính yếu phải kể là cuốn Pháp ngữ riêng biệt. Vả, trong Từ điển, Ngữ pháp được đánh số trang riêng.


Thứ ba, nếu xét về nội dung, thì đây thật là một cuốn ngữ pháp, chúng tôi sẽ bàn giải sau, chứ không phải chỉ là mấy lời dẫn vào Từ điển. Điều này, cho tới nay các nhà làm công tác văn học cũng đều công nhận. Thanh Lãng, trong Biểu nhất lãm văn học cận đại (Tự do, Sài gòn, 1958, tr.23) viết: "Chính phần này được tục gọi là Cuốn văn phạm Việt Nam đầu tiên.” Đỗ Quang Chính, trong Lịch sử chữ quốc ngữ (Ra Khơi, Sàigòn, 1972, tr.85) cũng viết: "Đây là cuốn ngữ pháp Việt Nam, nhưng soạn bằng La ngữ”. Võ Long Tê, trong Lịch sử văn học công giáo Việt Nam cho biết : đây là "một tài liệu về hệ thống phiên âm Việt ngữ phôi thai và chứng tỏ tác giả hiểu rõ đặc điểm âm thanh và cú pháp của tiếng Việt."


Thứ bốn, thực ra nếu đọc kĩ mấy lời tác giả viết "Cùng độc giả" ở ngay đầu Từ điển, thì thấy ông cũng coi như một thứ ngữ pháp. Ông viết: "Thay thế cho một thứ Ngữ pháp, tôi mở đầu ít dòng liên quan quan tới khái niệm về tiếng Annam hay tiếng Đàng Ngoài.”


Nói tóm lại, theo nội dung và nhất là theo tác giả, đây là một cuốn Ngữ pháp, cuốn ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên ấn hành năm 1651 ở Rôma, viết bằng tiếng latinh.


1, 3.- Nhan đề cuốn sách


Mặc dầu đây là cuốn Ngữ pháp, Ngữ pháp tiếng Việt, nhưng cái nhan đề nguyên thủy của nó bắt chúng ta phải có đôi lời tìm hiểu và cắt nghĩa. Theo sát tiếng latinh, chúng ta phải dịch "Diễn giải vắn tắt về tiếng Annam hay tiếng Đàng Ngoài”; Linguae Annamiticae seu Tunchinensis brevis Declaratio. Về hai chữ diễn giải vắn tắt hay khái luận, thì không có vấn đề. Về chữ Annam thì thực ra cũng không có gì khuất khúc phải cắt nghĩa, nhưng về chữ Tunchinensis ( Đông kinh hay Đàng Ngoài) thì phải giải thích.


Về mặt dân tộc, tiếng nói, lịch sử và phong tục tập quán thì chỉ có một nước thống nhất là nước Annam. Các người ngoại quốc đến xứ ta vào thế kỉ này, họ đều nhận thấy sự thống nhất này: một dân, một nước, một lịch sử, một tiếng nói. Thế nhưng hiện thời có sự phân chia Bắc, Nam, Đàng Ngoài, Đàng Trong. Cho nên khi nói tiếng Annam là nói tiếng chung cho cả hai miền đất nước. Thế nhưng còn chữ Tunchinensis (Đông kinh, Đàng Ngoài) thì phải hiểu thế nào.


Theo sử ta, thì năm 1010 Lí Thái Tổ dời kinh đô về Thăng Long. Đời Hồ dựng kinh đô mới gọi là Tây đô, còn Thăng Long thì gọi là Đông đô. Tới Lê Thái Tổ thì gọi là Đông kinh. Do đó, khi người ngoại quốc đến xứ ta thì họ nói là đi Đông kinh, rồi từ tên kinh thành biến ra tên xứ, tên miền. Đi Đông kinh tức là đến Kẻ Chợ, tới " vương quốc Đông kinh", tên thành trở nên tên đất nước. Có một đoạn trong Hành Trình cho biết, hay đúng hơn theo tác giả Hành Trình thì Đàng Trong xưa kia vẫn thuộc về vương quốc Đàng Ngoài, chỉ ít lâu nay mới li khai với Đàng Ngoài, lập thành Đàng Trong hay được người ta gọi như thế. Cho nên theo chúng tôi, viết tiếng Đông kinh thì hơi khó hiểu và có thể không đúng hẳn. Mà viết tiếng Đàng Ngoài thì cũng chưa hẳn xác đáng. Nếu hiểu Đàng Ngoài theo lời lẽ Đắc lộ viết và chúng tôi vừa dẫn chứng thì có thể được, nghĩa là Đàng Ngoài trước kia gồm cả Đàng Trong. Hơn thế nữa, ông đã dành cả một cuốn sách về Đàng Ngoài mà ông gọi là Truyện hay Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài. Chữ vương quốc ông dùng ở đây thì rất đúng và ông cho biết khá tỉ mỉ về cái chế độ quân chủ, có vua, có triều đình, có quân quốc, có thuế má, có văn học, thi cử, thế nhưng ông cũng cho hay vị vua chỉ có danh là vua, nhưng mọi quyền hành đều nằm trong tay một vị chúa. Hơn một lần ông nói về vị vua chỉ có danh hiệu, còn vị chúa mới thực là người điều khiển guồng máy cai trị văn võ trong nước. Ông cũng viết về Đàng Trong, nhưng như chúng tôi đã nói, ông coi Đàng Trong như một phần của Đàng Ngoài đã li khai với Đàng Ngoài mà thôi. Ông nói rõ việc li khai này còn rất mới, bắt đầu từ ông cố của chúa Đàng Trong Nguyễn Phúc Lan mà thôi.


Kết luận là mặc dầu tác giả nói tiếng Annam hay tiếng Đàng Ngoài, tiếng Đông kinh (Linguae Annamaticae seu Tunchinensis), đồng hóa Annam với Đàng Ngoài, nhưng nếu chúng tôi dịch là Đông kinh thì cũng không ổn, mà viết là Đàng Ngoài thì vẫn chưa hoàn toàn đúng. Cho nên, khi nói Đàng Ngoài thì phải hiểu như ông hiểu, nghĩa là Vương quốc Đàng Ngoài, Vương quốc Annam, và tiếng Annam, tiếng Đàng Ngoài chỉ là một, Annam hay Đàng Ngoài.


1, 4.- Ngữ pháp soạn ở đâu và năm nào


Ở lời tựa cùng độc giả ông chỉ cho biết ông đã viết phần tiếng latinh cho từ điển, chứ không nói đã soạn toàn bộ cuốn sách ở đâu và lúc nào. Nếu chúng tôi dựa vào việc ông viết phần latinh ở Rôma vào năm 1649-1650, thì chúng tôi có thể phỏng đoán ông soạn Ngữ pháp bằng tiếng latinh cũng vào những năm này như thể một thứ diễn giải thứ tiếng viết trong Từ điển. Thế nhưng chúng tôi cũng không quên rằng khi tập đoàn giáo sĩ tới Đàng Trong kể từ 1615, họ hẳn cũng phải học hỏi tiếng Việt theo một phương pháp nào, ngoài việc thực hành và học nói trực tiếp.


Là những nhà trí thức thông thạo tiếng mẹ đẻ là lẽ dĩ nhiên, họ còn biết mấy tiếng cổ điển Hi La thêm tiếng Hibálai ( Do thái). Những thứ tiếng này đã có qui luật minh bạch, có ngữ pháp qui định vững vàng. Riêng về La ngữ là thứ tiếng họ sẽ sử dụng để phiên âm Việt ngữ, từ lâu cũng đã có ngữ pháp với những qui luật chặt chẽ. Cho nên, như chúng tôi sẽ nói thêm sau, họ là những người thuộc nhiều quốc gia khác nhau, Ý, Bồ, Pháp, họ đã lấy ngữ pháp tiếng latinh để làm cơ sở học hỏi. Thời đó, chúng ta không học tiếng nước ta, cũng không cần, tiếng mẹ đẻ thì học nói ngay từ lúc lọt lòng mẹ rồi, còn học viết thì cũng không cần. Các tờ bồi giấy má thì làm bằng chữ Hán, chữ nôm không được trọng dụng, vả thứ chữ này cũng chưa có những qui luật chặt chẽ.Thời đó cũng chưa có trường học tiếng mẹ đẻ. Trường hợp Maiorica học chữ nôm và soạn một số sách đáng kể bằng chữ nôm là một trường hợp rất đặc biệt. Cho nên, những người quen lí luận, quen phương pháp học hỏi, hẳn họ phải nghĩ ra cách thức để làm công việc khẩn trương này. Tiếng latinh là tiếng chung của họ, thứ tiếng chết - tử ngữ - nghĩa là không ai nói, chỉ được dùng trong các văn kiện, tờ bồi của tôn giáo mà thôi. Nhưng La ngữ là thứ tiếng đã có một quá khứ hiển hách, thuộc về một dân tộc văn minh cổ làm bá chủ cả một vùng trời Âu. Riêng về thứ tiếng này, thì kể từ thế kỉ 3 trước Công nguyên, người La tinh đã có thơ văn đủ loại đến thời hoàng kim thế kỉ 1 trước Công nguyên, thì có một số tác giả danh tiếng như nhà hùng biện Ciceron (106-1 hay 70- 43 tr.), nhà thơ ca tụng thôn dã Virgile (71 hay 70- 19 tr.). Các tiếng như tiếng Ý, tiếng Pháp, tiếng Bồ, tiếng Tây ban nha đều thuộc về gốc La ngữ, nếu không bởi La ngữ mà hình thành. Cho nên, dựa vào tiếng latinh, Đắc lộ đã có những khái niệm về tiếng Việt khởi thảo từ những năm đầu ở Đàng Trong với những tìm tòi, học hỏi tập thể của cả một lớp người tiên phong như Buzomi, Pina, Borri, ông đã soạn khi về tới Rôma năm 1649-1650, dưới sự thôi thúc của các vị hồng i thánh bộ Truyền bá đức tin. Theo chúng tôi thì việc làm này cũng không khó khăn gì. Đã rất thông thạo tiếng, đã có trong tay hai cuốn sách Phép Giảng, nhất là Từ điển hẳn như các đồng sự đã làm ở Đàng Trong trước đây hơn ba chục năm, ông chỉ việc lấy cuốn Ngữ pháp tiếng latinh, rồi từ đó viết Ngữ pháp tiếng Việt.


1 5.- Ngữ pháp tiếng Việt theo Ngữ pháp tiếng latinh


Khi chúng tôi nói, tác giả có thể lấy cuốn ngữ pháp tiếng latinh rồi viết ngữ pháp tiếng Việt với tất cả sự thận trọng và hiểu biết của mình, thì chúng tôi có lí do. Chúng tôi đã xem lại một cuốn ngữ pháp tiếng latinh soạn bằng tiếng Pháp in ở Paris năm 1960 và chúng tôi thấy quả thật sách của Đắc lộ hoàn toàn theo sách mẹo latinh. Đây là các đề mục trong cuốn sách soạn cho học sinh Pháp học tiếng latinh.


Sau mấy khái niệm về tự mẫu tiếng latinh, về cách đọc, về một số kí hiệu, thì tới phần gọi là từ dạng của tiếng. Trong phần thứ nhất này, người ta đề cập tới các loại từ: danh từ, tính từ, đại từ, động từ. Bốn loại từ này thuộc về loại từ có biến đổi vì có chia theo cách, theo số ít, số nhiều. Riêng về động từ thì khá phức tạp, điều mà tiếng Việt không có. Tiếp sau còn có: phó từ, giới từ, liên từ và thán từ. Đây là bốn loại từ bất biến, nghĩa là không thay đổi vì không có chia, không có số ít, số nhiều. Tới phần thứ hai là phần về cú pháp, về những thành phần trong một mệnh đề. Phần thứ ba dành cho các mệnh đề trong câu văn, câu nói.


Nếu chúng ta coi ngữ pháp tiếng Việt thì thấy cách xếp đặt tương tự như trên. Sau hai chương đầu nói về vần và dấu rất quan trọng để đọc rõ tếng Việt, thì tới các chương bàn về danh từ (ch.3), đại từ (ch.4, ch.5), động từ (ch.6), các thành phần bất biến khác của câu văn: giới từ, phó từ, liên từ và thán từ (ch.7). Sau cùng về cú pháp, chỉ có một chương ngắn , chương chót (ch.8).


Vậy trừ hai chương đầu nại tới sáng tạo đặc biệt, còn các chương theo sau thì đều dựa theo La ngữ. Chúng tôi có lí do nói thế, một là vì khi không cần thiết, tác giả cũng lôi thí dụ ở langữ ra làm như tiêu chuẩn, như khi chia động từ, chia danh từ La ngữ, hai là khi tác giả nói những thành phần bất biến, thì bất biến đó là bất biến trong tiếng latinh, chứ trong tiếng Việt, tất cả đều bất biến rồi. Không phải chỉ có giới tù, phó từ, liên từ và thán từ là bất biến, mà cả danh từ, tính từ, đại từ và động từ, thảy đầu bất biến. Dẫu sao, theo chúng tôi, thì một là những người làm ra chữ quốc ngữ không thể làm khác được. Họ cần học hỏi cho có phương pháp, có khoa học vì thế họ cần một ngữ pháp. Mà thực ra bây giờ chúng ta mới hiểu, đã là ngôn ngữ, bất cứ ngôn ngữ nào thì cũng có những qui luật tương tự như nhau, tuy có nhiều kiểu nói, cách sắp xếp có thể xa nhau. Hai là đối với họ, những người tinh thông La ngữ cổ điển, họ sử dụng những kiến thức về ngôn ngữ học của họ để thấu triệt tiếng Việt. Thí dụ về động từ, với những thời, những cách tinh vi của La ngữ, họ phần nào soi sáng cách diễn tả đơn giản, ám thị trong câu văn, lời nói của ta. Đàng khác, khi cần dịch qua tiếng latinh thì dĩ nhiên họ phải viết cho đúng ngữ pháp tiếng latinh của họ. Cho nên, chúng tôi có cảm tưởng, khi đọc Ngữ pháp tiếng Việt chúng tôi học thêm được một tiếng mới là La ngữ.


Mặc dầu lấy tiếng latinh làm căn bản học hỏi tiếng Việt, lấy ngữ pháp latinh làm cơ sở soạn ngữ pháp tiếng Việt, việc làm này ở thế kỉ 17 phải được kể là một bước tiến quan trọng. Cho tới nay, chúng ta học chữ nho, chữ hán, nhưng chúng ta vẫn chưa học theo một ngữ pháp nào, tiếng Việt cũng chưa có ngữ pháp. Ngày nay ngữ pháp học có tiến triển về nhiều mặt, song mấy qui luật then chốt vẫn tồn tại. Lần đầu tiên, người ta bảo cho chúng ta biết: trời, đất, người, chữ nho là thiên, địa, nhân, mỗi từ đó thuộc về danh từ, không thể là động từ hay tính từ được; còn chèo thì vừa có thể là danh từ, vừa có thể là động từ. Theo La ngữ, nhưng tác giả không theo cách máy móc bởi vì ông hiểu biết khá sâu xa về tiếng Việt. Cho nên ông đã dừng lại lâu hơn thí dụ ở cách xưng hô trong tiếng Việt, tức cách dùng đại từ chỉ ngôi trong tiếng Việt và nhiều điều khác riêng về tiếng Việt. Ba mươi mốt trang giấy, tuy vắn tắt, nhưng tạm đủ để đặt cơ sở cho việc học và nói thứ tiếng khác xa các tiếng của chúng ta, như lời viết trong Cùng độc giả.


1, 6 - Tiếng Đàng Trong trong Ngữ pháp


Khi chúng tôi nói tiếng Đàng Trong, thì chúng tôi muốn nói có một lối phát âm riêng của Đàng Trong, cũng như có một cách phát âm riêng của Đàng Ngoài. Về lịch sử thì vào thế kỉ 17 này, nước Việt Nam tạm thời bị chia đôi, miền Bắc dưới quyền cai trị thực sự của các chúa Trịnh, miền Nam thuộc quyền các chúa Nguyễn. Về địa lí thì thực ra kể từ miền Thanh Nghệ đã nghe chớm giọng Đàng Trong rồi. Vào thời các giáo sĩ Dòng Tên đến xứ ta, thì hai miền đất nước thành hai miền riêng rẽ, biên thùy bít bưng, lại có chiến tranh huynh đệ tương tàn. Việc tạm thời phân chia Nam Bắc lại càng làm cho giao lưu tiếng nói gặp cản trở, giọng nói ngày càng khác nhau. Từ năm 1615, tập đoàn giáo sĩ Dòng Tên đến Hội An, đi Qui Nhin, tới Phú Yên là ranh giới với nước Chàm, họ đã học nói tiếng Quảng Bình, Quảng Nam và Bình Định. Đắc lộ tới Đàng Trong năm 1624, ông đã học với Pina, người tinh thông tiếng Đàng Trong, học với Raphael cậu bé người Đàng Trong. Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy là ở Đàng Trong. Cho nên khi soạn ngữ pháp, mặc dầu ông nói là ngữ pháp tiếng Annam hay tiếng Đông kinh (Đàng Ngoài), những điều ông học hỏi ở Đàng Trong về tiếng Đàng Trong vẫn nổi hẳn lên và nổi lên một cách rõ rệt, khăng khít. Ngoài những chi tiết khác, chúng tôi để í tới ba điểm này.


Thứ nhất, tác giả mấy lần viết lẫn lộn các dấu. Chúng ta biết, người Quảng Nam, Bình Định ngày nay vẫn còn ít phân biệt hỏi ngã, ngã hỏi, nặng. Trong ngữ pháp, tác giả viết rẹ để hiểu rễ và ông cho biết ở một vài miền người ta nói như thế, bạ = bã. Cũng vậy, không nói ra, không cho biết lí do, ông ghi ông Chuẫng để hiểu ông Chưởng, nghĩ thay cho nghỉ là dễ, bvã thay cho bvả (vả). Trong Phép Giảng và trong Từ điển cũng thấy sự không phân biệt mấy dấu ngã hỏi, hỏi ngã này, chứng tỏ tiếng Đàng Trong đã ăn sâu vào trí óc ông.


Thứ hai, trong vần quốc ngữ, ông nói có hai chữ b, một b thông thường và một b như bêta hilạp. Ông cắt nghĩa về chữ bêta hilạp này như sau: "Chữ bv thứ hai này đọc như bêta hilạp thí dụ bveào, song không hoàn toàn giống phụ âm v của chúng ta, nhưng phát hơi một chút và mở môi như thể đọc chính chữ đọc bằng môi, như người Do thái quen đọc, nhưng không phải tiếng thuộc âm răng.” Ông chỉ cố gắng giải nghĩa cách đọc như thế, nhưng không cho biết cách phát âm này thuộc miền nào. Hình như ông không biết hoặc tránh né không ghi rõ, thí dụ, đây là tiếng Đàng Trong, đây là tiếng Đàng Ngoài. Ở một vài chỗ ông ghi đây là cách đọc của một số làng, xã nào đó mà thôi.


Chúng tôi đi tìm vết tích chữ bêta hilạp này và thấy Legrand de la Liraye viết như sau: "Chữ V Annam thì như V Pháp; thế nhưng, trong những tỉnh miền nam, người ta thêm vào một chữ i hoặc cả một chữ u rất vắn, như thể khi viết va, ve, vi, vo, vu, thì người ta đọc như via, vie, vio, viou hay vũa, vũe, vũi , vuou. Nhưng không phải là cách đọc chung của hai mươi mấy triệu dân” (Legrand de la Liraye, Dictionnaire elementaire annamite francais, Paris, 1874, tr. 8-9). Như vậy, cách phát âm đặc biệt về chữ bêta hilạp ghi trong ngữ pháp thì thuộc về Đàng Trong. Nếu chúng ta được biết từ điển Việt Bồ của Amaral thì hẳn sẽ không có chữ bêta hilạp này, bởi vì người Đàng Ngoài không phát âm như thế. Cũng như năm 1797, khi ở Lisbon, Philiphê Bỉnh chép lại phần Việt Bồ của Từ điển, thì ông đã bở chữ bêta hilạp và dồn tất cả phần này vào chữ v. Cũng vậy, cũng ở Lisbon năm 1801, người bạn đồng sự của Bỉnh là Quình Nhân, khi chép lại SPhép Giảng thì ông này đều viết V tất cả những nơi ghi bêta hilạp. Bỉnh là người Hải Dương và Quình Nhân là người Thanh Nghệ Tĩnh.


Thứ ba và đây mới là điều làm cho chúng tôi nói ngữ pháp của Đắc lộ là ngữ pháp tiếng Đàng Trong, mặc dầu, như chúng tôi đã viết ở trên, ông soạn ngữ pháp tiếng Annam hay tiếng Đông kinh (Đàng Ngoài). Chúng tôi đã viết một bài tham luận khá dài, xin xem ở phần phụ cuốn sách. Ở đây chúng tôi chỉ vắn tắt ngắn gọn thế này.


Về các nguyên âm trong tiếng Việt, tác giả viết:


-có hai a là a và â,


-có hai e là e và ê,


-có hai o là o và ô.


Ngoài ra ông dành riêng cho hai nguyên âm ơ và ư là hai nguyên âm sáng chế ra cho vần quốc ngữ, như chúng tôi sẽ có dịp nói thêm sau.


Về hai kí hiệu mũ sấpmũ ngửa, thì ông lí luận thế này:


- dấu mũ sấp đặt trên nguyên âm để thành â ê ô như ấn, mềm, ốm.


- dấu mũ ngửa đặt trên nguyên âm ă ĕ ŏ như tăóc, dĕa, tŏan, nhưng những nguyên âm có dấu này thì chỉ đọc phớt qua, đọc rất nhanh, bởi vì nguyên âm tiếp ngay sau mới là âm và thanh chính thức. Như vậy nguyên âm có dấu này chỉ là nguyên âm giả tạo chứ không phải nguyên âm thực thụ. Cho nên khi viết tăóc thì đọc như tóc, khi ghi dĕa thì đọc là da, còn lại tŏan thì chẳng thay đổi gì vì vẫn đọc, ít ra ngày nay, là toan. Điều quan hệ là tác giả không nhận cho ă là một nguyên âm thực thụ. Cho nên, để kết luận về các nguyên âm trong vần quốc ngữ, ông viết: "Như vậy, đầy đủ các nguyên âm trong ngôn ngữ này thì gồm có 7 đó là : a e i o u, thêm ơ và ư như chúng tôi đã bàn giải ở trên.” Vậy nếu chúng ta biết ông nói có hai aaâ, hai eeê và hai ooô thì toàn thể các nguyên âm gồm có 10 và không có ă.


Ngay trong Ngữ pháp, tác giả đã áp dụng qui luật này, vì ngoài những chữ như đăọc (đọc), hăọc (học), nhăọc (nhọc), chúng ta thấy ông viết với a như an (ăn), át thật (ắt thật), bàng, ví bàng (bằng, ví bằng), báp (bắp), chang (chăng), chảng (chẳng), hoạc (hoặc), lám (lắm), mạc (mặc, mắc), mám (mắm), nam (năm), nàm (nằm), thàng (thằng). Tuy nhiên có một lần ông viết ăn với ă. Thực ra trong Phép Giảng cũng như trong Từ điển, ông cũng viết với ă ở khá nhiều chữ, nhưng ông vẫn ngả về a nhiều hơn. Điều làm chúng tôi bỡ ngỡ là mặc dầu ông biết, khi ra Đàng Ngoài, khi ông sử dụng sách của Amaral, của Barbosa, ông vẫn còn giữ cách phát âm Đàng Trong và nhất là khi soạn Ngữ pháp, ông vẫn không nhận nguyên âm ă thực thụ, như chúng tôi đã dẫn chứng ở trên. Thực ra người Quảng Bình, Quảng Nam, Bình Định vẫn còn nói ang hay eng để chỉ ăn, người Nha Trang chính cống ngày nay vẫn còn nói eng côm (ăn cơm). Vì ba lí do chính đó mà chúng tôi cho tác giả đã soạn ngữ pháp theo tiếng Đàng Trong nhiều hơn tiếng Đàng Ngoài, hoặc cái lõi gốc vẫn là tiếng Đàng Trong, hoặc đúng hơn cả tiếng Đàng Trong cả tiếng Đàng Ngoài, tiếng Annam gồm cả hai miền. Chúng tôi có thể nói như thế, thế nhưng vẫn thắc mắc về việc ông không nhận nguyên âm ă thực thụ trong vần quốc ngữ, mà chỉ nhận ă giả tạo sẽ biến mất với thời gian.


1,7.- Vần latinh và vần quốc ngữ


Việc phiên âm tiếng Việt là việc lấy tự mẫu latinh để viết tiếng Việt. Vậy nên biết vần latinh có những chữ nào. Vần latinh gồm có 23 chữ :


A B C D E F G H I K L M N O P Q R S T U X Y Z


1 5 10 15 20 23


Thực ra hai chữ sau cùng chỉ được sáp nhập vào vần latinh vào cuối thế kỉ thứ nhất trước công nguyên, cho nên ngay cả Đắc lộ, trong ngữ pháp, vẫn còn gọi Y là y gờ rét tức Y hi lạp và vào thời chúng tôi, khi còn bé cũng đọc là y gờ rét mà chẳng hiểu tại sao.


Tác giả nói, vần quốc ngữ sử dụng tất cả tự mẫu latinh trừ hai chữ : F được thay thằng PH, còn Z thì ông không cho lí do. Trong chương một bàn về vần quốc ngữ, ông lần lượt bàn giải về từng chữ, không trừ một chữ nào, nhưng có mấy điều cần ghi nhận.


Thứ nhất về các nguyên âm có a và â, e và ê, o và ô, thêm ơ và ư. Hai nguyên âm ơ và ư được sáng chế ra vì tiếng latinh không có chữ để ghi âm riêng biệt trong Việt ngữ. Nên để í, ông không viết liền o ô ơ như chúng ta ngày nay, cũng thế ông không viết liền như chúng ta ngày nay: a ă â, cũng vậy ông cho ư biệt lập với u. Như thế là ơư là hai chữ mới sáng chế ra, chứ trong vần latinh không có. Dĩ nhiên, chúng tôi nhắc lại, ă không là thành phần trong sổ bộ các nguyên âm thực thụ.


Thứ hai, vần quốc ngữ sử dụng tất cả tự mẫu latinh trừ hai chữ đã nói ở trên và thêm bốn chữ mới: hai nguyên âm là ơư và hai phụ âm là bêta (bv) và đ. Như vậy, theo Ngữ pháp thì vần quốc ngữ gồm có:


A, B, BV, C, D, Đ, E, G, H, I, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U, V, X, Y.


1 5 10 15 20 24


Riêng về các nguyên âm, chúng ta có :


- a e i o u


- ơ ư


- â ê ô


Không có - ă.


Thứ ba, tiếng latinh có hai i, i nguyên âm là i và i phụ âm là j. Điều này có hệ tới những gì tác giả viết để giải thích về chữ i. Nói tóm tắt thì thế này:


- Khi i ở giữa một tiếng thì viết i mà không sợ lẫn lộn, như biết, viết.


- Khi i ở cuối thì đều viết i, trừ khi cần phải viết y , như cai, cay; mai, may. Hình như có khuynh hướng không dùng y mà dùng hai chấm. Tác giả tránh không muốn nại tới nhiều kí hiệu quá, cho nên không dùng hai chấm mà dùng y. Ngoài ra đều viết i ở cuối. Hơn thế nữa khi i đứng một mình thì cũng viết i chứ không y. Do đó chúng ta có: i, í, ì, ỉ chứ không viết y, ý, ỳ, ỷ, bởi vì không sợ lẫn với i phụ âm. Cũng vậy, chúng ta viết i tất cả ở cuối như hi, ki, li, mi, ti, cả qui nữa vì theo người latinh thì qui đọc như Quy rồi (Q + uy). Qui tắc này thích hợp với qui tắc vàng ngọc: một kí hiệu cho một âm và mỗi âm có một kí hiệu.


- Khi i đứng đầu một chữ thì thế này: a) Nếu chữ ngay sau là một phụ âm thì viết i, như im, in, ít ... b) Nếu chữ tiếp ngay sau là một nguyên âm thì viết y, như yả, yêu,yếu... Vì sao ? Bởi vì nếu viết iả, iêu, iếu thì người ta lầm mà đọc như thể có chữ j phụ âm thành ja, jeu, jếu... Qui tắc này chỉ có giá trị đối với những người quen với tiếng latinh cổ điển, vì khi viết i thì có thể hiểu hoặc i hoặc j, thí dụ khi họ viết iustitia,ieiunium thì phải hiểu là justitia, jejunium. Cho nên ngày nay, chúng ta không bị lệ thuộc vào nó, thì rất có thể và rất nên viết tất cả là i trong iả, iêu, iếu cũng như viết tất cả là í, í, ì, ỉ. Mỗi kí hiệu cho mỗi âm và mỗi âm có và chỉ có một kí hiệu. Nhiều người thắc mắc hỏi: tại sao không viết li, lí, mĩ, tí... mà lại viết ly, lý, mỹ, tý... thì thường chúng ta chỉ đáp một là viết với Y đẹp hơn, hai là vì theo thông tục. Nhưng thông tục cũng có thể cải tổ được, để cho hợp lí, hợp lẽ phải. Thời giờ là vàng ngọc, không nên phí thời giờ vào những chuyện không đâu.Tóm lại, trong vần quốc ngữ của chúng ta không có chữ j, chính vì lí do trên đây đã trình bày: vần latinh có một kí hiệu i để chỉ i nguyên âm và j phụ âm.


Thứ bốn, trong vần latinh có hai u, một u nguyên âm là u và một u phụ âm là v. Điều này thực ra không hệ tới vần quốc ngữ của chúng ta, cho dầu trong Từ điển, Đắc lộ ghi lẫn lộn U và V vào cùng một mục. Bắt đầu vào bộ chữ U này thì có u mê, nhưng vì chữ u ở đây viết chữ hoa, chữ cái, cho nên viết thành V mê. Ngoài ra để khỏi lẫn u với v, nhất là khi sau u là một nguyên âm thì tác giả đành phải đặt hai chấm, thí dụ uống, để khỏi lẫn mà đọc là vống.


Có một điều làm chúng tôi phải để í. Khi tác giả nói có hai u: u nguyên âm là u và u phụ âm là v, thì cho thí dụ về U và mấy tổ hợp của u như qua, nguẹt, càu ... nhưng không cho nửa lời về V. Dẫu sao, trong Ngữ pháp, tác giả bó buộc viết vi, vì, ví, viậc.


Nói tóm lại về vần quốc ngữ, chúng ta sử dụng toàn bộ vần latinh, trừ F và Z. Trái lại chúng ta thêm hai phụ âm bêta (bv) và đ, hai nguyên âm ơ và ư. Đặc biệt, như chúng tôi đã trình bày: không có nguyên âm ă thực thụ.Toàn bộ vần quốc ngữ như chúng ta sử dụng ngày nay được ghi nhận trong Nam Việt Dương hiệp Tự vị của Taberd 1838. Chúng tôi ghi song song ba hàng để tiện bề so sánh:


1. Vần latinh :


AB C D E F G H I K L M N O P Q R S T V X Y Z


2. 1651 Đắc lộ :


AB BV C D Đ E G H I K L M N O P Q R S T U V X Y


3. 1838 Taberd:


AB C D Đ E G H I K L M N O P Q R S T U V X Y


1. Vần latinh A E I O U


2. 1651 Đắc lộ A Â E Ê I O Ô Ơ U Ư


3. 1838 Taberd A Ă Â E Ê I O Ô Ơ U Ư.


1, 8.- Mấy phụ âm kép


Trong vần quốc ngữ, có mấy phụ âm kép là BL, ML, PL,TL. Tác giả Ngữ pháp giải nghĩa cả bốn phụ âm kép này khi bàn về chữ L. Riêng về BL như blả, có nơi lại nói là tlả (lả, trả), nhưng trong kinh thành thì dùng bl, như blời, đức Chúa blời (trời, đức Chúa trời).Trong Ngữ pháp có ghi blai (trai, con trai), blái (trái, trái cây).


ML là phụ âm kép khá thông dụng như mlẽ ( lẽ, nhẽ), mlời (lời, nhời). Ở đây ông không cho biết địa phương nào thường dùng phụ âm này. Ngữ pháp ghi mlớn (lớn, nhớn ).


PL ít thông dụng, Đắc lộ cho một thí dụ: plàn (lăn, tràn), nhưng cũng cho biết có nơi người ta đọc là làn không có p. Từ điển ghi nhiều từ với bl, ml, tl nhưng không có một chữ nào với pl.


TL rất thông dụng như tla (tra), tle (tre). Ngữ pháp ghi tlả (trả), tlê (trên), tlò (trò, học trò), tlong (trong), tlộm (trộm), tluớc (trước). Từ điển vừa ghi tl, vừa ghi tr. Đây là một trong ba phụ âm kép không còn thông dụng vào cuối thế kỉ 18, đầu thế kỉ 19. Trong sách chép lại của Bỉnh và Quình Nhân, không còn tl, tất cả đã được thay bằng tr.


1, 9.- Phụ âm KH, PH, TH Hilạp


Có mấy phụ âm mà vần latinh không diễn đạt được, cho nên đề cắt nghĩa cách sử dụng, tác giả Ngữ pháp nại tới vần Hilạp, đó là KH, PH và TH.


Khi bàn về chữ H, ông cho biết có âm ph trong La ngữ, ngoài ra kh thì đọc như khi hilạp, th như thêta hilạp, còn ph tuy tương tự như ph latinh, nhưng đọc như phi hilạp.


Trong Ngữ pháp, đã thấy viết khá, khác, khó, khoan; pha, phải, phô, phù dung. Về th thì phong phú hơn : tha, thàng (thằng), thay, thày, thân, thật, thề, thì, thưa, thường.


Riêng về F sau khi cắt nghĩa cách đọc thì tác giả thêm: "Trong từ điển, chúng tôi không dùng F mà dùng PH, vì trong các sách đều quen dùng như vậy.”


Phụ âm CH, NH Bồ


Thứ nhất khi đặt ở đầu như cha thì như cia của người Ý, nhưng như người Bồ cha thì tiện hơn, vả lại trong các sách thì đã viết như vậy rồi. Cũng vậy viết che như người Bồ, chứ không như ce người Ý. Còn nhà thì cũng đọc theo người Bồ.


Nguyên mấy lời lẽ trên đây, thì thấy, như chúng tôi đã nói, có hai khuynh hướng phiên âm, một theo người Ý và một theo người Bồ. Lớp giáo sĩ đầu tiên tới Đàng Trong gồm có người Ý như Buzomi, Borri, Maiorica, có người Bồ như Pina, Gaspar Luis, De Fontes... Nhưng thực ra số người Bồ vẫn đông hơn. Khi Đắc lộ tới Đàng Trong năm 1624, thì thực ra công việc phiên âm tiếng Việt đã khá tiến triển, và có thể tiến triển tốt đẹp. Cho nên, nếu muốn cải tổ thì cũng khó. Vì thế trong Ngữ pháp hơn một lần ông cho biết vì trong các sách đã viết như vậy rồi, và như thế tiện hơn.


Thứ hai khi đặt sau thì thế này: khi đọc tiếng Bồ cacha mà bỏ a cuối đi thì còn lại cach, có nghĩa là cách thức, cách thế. Cũng vậy,nếu đọc tiếng Bồ manha mà bỏ a cuối đi thì được mạnh có nghĩa là mạnh khoẻ. Trong Ngữ pháp chúng ta đọc thấy phụ âm chnh như: chang (chăng), chảng (chẳng), cháõ (chóng), chièng (chiềng), chuẫng (chưởng); nheo (nhiêu), nhèo (nhiều), nhin sao (nhân sao).


Ghe, ghi, gia, gio, giơ, giu, giư Ý


Trên đây khi nói về ch, nh, chúng tôi đã đề cập tới sự lựa chọn giữa hai lối viết: Bồ và Ý, nhưng Bồ đã thắng, thí dụ giữa cia, ce , gna Ý và cha che, nha Bồ, thì Bồ đã thắng. Cũng vậy giữa sc Ý và x Bồ, thì Bồ đã thắng. Trên đây, khi nói về Borri, chúng tôi đã nhắc tới cách phiên âm của ông này và ông đã viết con gno (con nhỏ) và scin (xin). Nhưng với ghe, ghi thì theo người Ý. Cũng theo người Ý khi viết gia, gio, giơ, giu, giư và tác giả lại nhắc tới lời lẽ thanh minh: “vì tiện hơn và trong các sách đã chép đều dùng như vậy.” Trong Từ điển sau geu (geo) thì bắt đầu có ghe gà, ghê rang (ghê răng), ghen, ghét... rồi sau gì, gỉ thì có giá, giả, gia...


Riêng về Ge, Gi tác giả viết theo Ý, thực ra có thể viết với j phụ âm, nhưng, vẫn theo tác giả, ông sợ có hiểu lầm, có lẫn lộn. Do đó mà trong vần quốc ngữ không có phụ âm j. Trong Từ điển, ông ghi tới bẩy chữ với phụ âm j, nhưng ông nói hãy coi g: jà x già, jẻ x gẻ (giẻ), jì x gì, jó x gió, jờ x giờ, jủ x giủi jũ x giữ.


Phụ âm "ngain" Do thái


Khi nói về chữ bêta hilạp, tác giả Ngữ pháp có đề cập tới cách đọc chữ beth Do thái. Ông không nói rõ tên chữ, chỉ nói theo như người Dothái. Còn ở đây khi bàn về phụ âm ngờ như ngà (ngà voi), thì ông viết: "Cách đọc thì giống hay tương đương với chữ ngain Do thái, nghĩa là một phần nào đọc giọng mũi và rất thông dụng trong ngôn ngữ này.”


Phụ âm "qu" latinh


Trên đây khi bàn về chữ i ở cuối một tiếng, chúng ta thấy tác giả viết i tất cả chứ không ghi y, cả với qu. Ở đây chúng tôi trưng thêm lời lẽ của tác giả trong Ngữ pháp: " Q, dùng liền với u như trong La ngữ, thí dụ qua, que, quì ". Vì đọc qu theo tiếng latinh nên không theo uy để viết quy, mà viết qui là đủ. Trong Từ điển tiếng Việt 1988 ban biên tập có khuynh hướng viết quy, quỳ, quỷ, quỹ, quý, quỵ, chứ không qui, quì, quỉ, quĩ, quí, quị, một là vì lí luận uy, hai là không biết cách đọc theo tiếng latinh qui như chúng tôi vừa trình bày theo Ngữ pháp. Trong Từ điển, Đắc lộ viết: qui, về; quì, quì gối; quí, phú quí; quỉ, quìen (quyền), quiẻn, cái quiẻn, quiẻn sách. Viết như vậy thì đúng là ông vẫn theo qu latinh, đọc q-uy rồi vậy.


Phụ âm “ng cuối" Pháp


Sự đóng góp của tiếng Pháp để làm thành vần quốc ngữ thì khá khiêm tốn. Đắc lộ là người Pháp, nhưng có thể nói một là ông đến sau các đồng sự người Ý, người Bồ, hai là dẫu sao ông thuộc về phe thiểu số, quá ít, ba là Pina, người Bồ vừa tới trước ông vừa có khả năng thâu thái và sáng tạo, bậc thầy của ông, đã cho vần quốc ngữ một cơ sở vững chãi từ những năm 1617-1624, bốn là dầu sao vần tiếng Pháp không thích hợp cho vần quốc ngữ bằng vần latinh, cho nên dẫu ông muốn bổ túc hay cải tổ, thì cũng khó thành công. Cho nên, chúng ta hiểu lời lẽ, hơn một lần ông nói: “vì tiện hơn”, “vì trong sách đã viết, đã sử dụng như vậy rồi. " Dẫu sao, khi nói về phụ âm cuối ng, ông trưng tiếng latinh: khi đọc sanguis ( là máu ) mà bỏ uis thì còn lại sang, có nghĩa là sang trọng. Rồi ông thêm, trong tiếng Pháp có sang là máu, trong câu le sang est beau, máu thì đẹp. Vậy phụ âm ng cuối này trong tiếng Việt thì tương tự như chữ sang tiếng Pháp.


1,10.- Các ký hiệu để ghi các thanh


Thanh và dấu trong Hoa ngữ


Một chút lịch sử về các thanh và dấu trong Hoa ngữ. Khá sớm, vào cuối thế kỉ 16, khi các giáo sĩ muốn phiên âm Nhật ngữ, thì không gặp vấn đề, vì Nhật ngữ không có các thanh. Nhưng khi muốn phiên âm Hoa ngữ thì phải tìm ra các kí hiệu để ghi các thanh, và không phải ngay lập tức, người ta dễ dàng kiếm ra. Vào năm 1584-1584 có một cuốn ngữ vựng Bồ Hoa viết tay 188 trang giấy, khổ 23 X 16, ba cột, cột một là tiếng Bồ, từ Abitar tới Zunir, cột hai là chữ Nho, cột ba là chữ Nho phiên âm. Mà phiên âm ở đây thì theo tiếng Ý, vì hai tác giả là người Ý, Ruggieri Micae (Minh Kiên) và Ricci Mateo (Lị Mã Đậu), nhưng chưa có các dấu để ghi các thanh.(ARSI,Sin.I, 45). Phải đợi cho tới năm 1598, hai giáo sĩ Ricci và Cattaneo mới tìm ra các kí hiệu . Năm 1604, cũng đã phát hành ở Philuậttân cuốn Tự vị Hoa Tây ban nha . Năm 1626 có bộ Âm vận kinh của Trigault, gồm 699 tờ giấy nho khổ 16X26, sắp xếp Hoa ngữ theo vần phiên âm latinh. Các thanh thanh, trọc, thượng, khứ, nhập được ghi bằng những kí hiệu - ^ \ / V (ARSI, Iap.sin. II, 127).Như thế là những người phiên âm Hoa ngữ, họ đã tìm được các kí hiệu để ghi các thanh rồi.


4 dấu Hilạp, 1 dấu Latinh


Ngữ pháp tiếng Việt nói tới sáu thanh trong Việt ngữ, nhưng thực ra chỉ cần năm kí hiệu là đủ, vì thanh bằng không cần phải có kí hiệu, như ba.


Dấu sắc lấy trong dấu Hilạp , gọi là sắc vì phát âm nhọn như thể có sự giận dữ, như , cung phi nhà chúa hay vợ mọn các viên quan lớn. Dấu trầm cũng lấy trong dấu trầm của tiếng Hilạp, khi đọc thì hạ giọng xuống, như , bà nội ngoại hay bà chúa. Dấu uốn cũng lấy trong dấu Hilạp, khi đọc thì uốn giọng cho ra từ đáy ngực rồi cho vung lên, như bvã, thực ra là vả, vả má, vả một cái. Dấu nặng lấy trong chấm iota Hilạp, đọc một cách nặng nhọc, như bạ là vật phế thải, vật bỏ đi, thực ra phải là . Dấu sau cùng là dấu dịu, lấy ở dấu hỏi latinh, khi đọc thì uốn cách dịu dàng như khi hỏi, như bả là thứ lụa mầu vàng hay nghệ.


Như thế là tác giả đã vận dụng 4 kí hiệu trong tiếng Hilạp và một kí hiệu trong tiếng latinh để dùng vào vần quốc ngữ. Những thí dụ ông đưa ra được viết lại như sau: ba, bà, bá, bvã, bạ, bả. Sau đó ông còn cố cho biết cung giọng lên xuống của sáu thanh trong sáu nốt nhạc Âu châu; dò, rẹ, mĩ, pha, sổ, lá, nếu xếp lại thí dụ trên thì là:


bà, bạ, bvã, ba, bả, bá.


Tên các dấu trong vần quốc ngữ


Tên các dấu như chúng ta nói ngày nay thì bắt đầu được ghi trong sách vở kể từ Taberd 1838. Trong phần Ngữ pháp của tự vị viết bằng tiếng latinh, Taberd không ghi tiếng Việt mà chỉ viết tiếng latinh. Thế nhưng ở một chương bàn về niêm luật làm thơ, thì ông cho biết tên các dấu, khi ông tính luật bằng trắc để làm thơ. Ông viết: "Trong tiếng Annam có hai dấu chỉ vần nào vắn, vần nào dài; vần vắn gọi là trắc, vần dài gọi là bình. Các tiếng có dấu nặng, sắc, hỏi ngã, thì vần ấy gọi là trắc (brevis accentus, dấu vắn), và các tiếng có dấu huyền hay là chẳng có dấu gì, thì vần ấy gọi là bình (accentus longus, dấu dài)" ( Taberd, Nam Việt Dương hiệp Tự vị, Serampore, 1838, tr. XXXIX).


Ngữ pháp 1651 viết bằng tiếng latinh, cho nên tên các dấu được ghi bằng tiếng latinh. Trong Truyện Vương quốc Đàng Ngoài , bản tiếng Pháp 1651 thì viết tên các dấu bằng tiếng Pháp. Chúng tôi ghi thành hai cột như sau đây.


Ngữ pháp 1651 Truyện VQĐN 1651


1. Không dấu Tonus aequalis Accent egal bằng


2. Sắc Tonus acutus Accent aigu sắc, nhọn


3. Huyền Tonus gravis Accent grave trầm


4. Ngã Tonus circumflexus Accent circumflexe grave uốn trầm


5. Nặng Tonus ponderosus seu onerosus Accent presque grave nặng, gần như trầm


6. Hỏi Tonus lenis Accent circumflexe doux nhẹ, uốn dịu


Tầm quan trọng của các dấu trong vần quốc ngữ


Trở lên những năm đầu học tiếng Việt ở Đàng Trong, chúng tôi không thấy đề cập tới tầm quan trọng của các dấu. Borri, năm 1621 khi nói về một vài khái niệm về Việt ngữ thì cũng không bàn về các thanh trong tiếng Việt. Trái lại, ngay khi tới Đàng Trong năm 1624, Đắc lộ đã nhận ngay ra tầm quan trọng của các dấu và cũng là một trở ngại cho công việc học hỏi. Ông viết trong Hành trình và Truyền giáo như sau


“Hết các tiếng đều độc vận và chỉ phân biệt í do nhiều giọng nói khác nhau. Một chữ như chữ đai chẳng hạn, có tới hai mươi ba nghĩa hoàn toàn khác nhau, do cách đọc khác nhau, vì thế khi nói thì như ca như hát. Tôi đã đề cập tới nhiều hơn trong cuốn Truyện Vương quốc Đàng Ngoài. Căn cứ vào đó thì thấy học thứ nôn ngữ này không dễ. “ (Hành Trình và Truyền giáo, Paris,1854,tr. 87).


Trong Truyện Vương quốc Đàng ngoài, ông nhận định và so sánh các cung giọng trong Hoa ngữ và Việt ngữ thế này: "Mặc dầu tiếng nói ngày nay phổ thông khác nước Annam khác với tiếng Tàu, thế nhưng cũng đọc với những cung giọng không quá khác với cung giọng tiếng Tàu. Tiếng Tàu chỉ có năm giọng nói, còn tiếng Annam thì có những sáu rất đáp ứng với những nốt nhạc của chúng ta, làm cho các tiếng đều khác nhau về nghĩa, đến nỗi không có tiếng nào mà không ghi thêm một trong sáu dấu là như hồn mà đặc tính í nghĩa của tiếng.” Cái nhận xét tinh vi về các cung giọng còn được biểu thị trong nhận xét về chữ nôm, vì theo ông chữ nôm không ghi các dấu, các kí hiệu, mà chỉ đọc thành cung, thành giọng mà thôi. "Những dấu hay thanh thì không ghi trong chữ viết của họ, nhưng chỉ phô diễn trong giọng nói mà thôi: điều này làm cho chúng tôi rất khó hiểu sách vở của họ. Thê nhưng chúng tôi đã nghĩ cách ghi các giọng khác nhau đó bằng tất cả cách viết của chúng ta, làm cho chúng ta hiểu biết sự khác biệt trong cung giọng để hiểu í nghĩa.” (Sd, q.1, ch.30).


1,11.- Mấy kí hiệu để ghi mấy âm


Trên đây là năm kí hiệu hay năm dấu để ghi năm thanh trong vần quốc ngữ, nhưng còn mấy kí hiệu nữa để ghi mấy âm. Theo Ngữ pháp thì có ba. Chúng tôi đã bàn giải sơ lược ở trên, nay xin nhắc lại.


Hai kí hiệu trong tiếng latinh


â ê ô và ă ĕ ŏ


Thứ nhất là dấu mũ sấp lấy trong vần latinh. Thực ra người latinh viết như vạch ngang trên nguyên âm, để chỉ âm hay vận đó gọi là âm hay vận dài, chứ không phải là dấu mũ sấp, như trong vần quốc ngữ. Trong tiếng Pháp, thật ra có dấu mũ sấp này và đọc dài, thí dụ âme (hồn), honnête (lương thiện)... Dấu mũ này được đặt trên a e và o thành â ê ô. Tác giả đã nói tới khi viết: có hai a là a và â, hai e là e và ê, hai o là o và ô. Đây là kí hiệu thực thụ làm đổi cách phát âm, từ âm mở a e o thành âm khép â ê ô.


Thứ hai là dấu mũ ngửa lấy trong tiếng latinh. Người latinh khi làm thơ, thì tính vận dài, vận ngắn. Vận ngắn thì đặt kí hiệu này trên nguyên âm, thí dụ trăho thì tră là vận ngắn. Thế nhưng theo Ngữ pháp, những nguyên âm có dấu mũ ngửa này thì không phải là âm thực thụ. Dấu mũ ngửa đặt trên ă ĕ và ŏ thì không phải âm thực thụ, nguyên âm tiếp sau mới là âm và thanh thực thụ, như tăóc là tóc, dăe là da, tŏan là t(o)an. Thành thử như chúng tôi đã nói ở trên, tiếng Đàng Trong thế kỉ 17, theo Ngữ pháp 1651 không có nguyên âm ă. Trái lại, tiếng Đàng Ngoài, rõ ràng có nguyên âm ă này, như trong một bản viết tay của Amaral năm 1632. Dẫu sao, như chúng tôi cũng đã nói, ngay trong Ngữ pháp cũng vừa viết an (ăn), vừa viết ăn, nhưng số chữ viết với a thì chiếm đa số, nếu không là tuyệt đối.


Một kí hiệu Bồ : dấu sóng


Kí hiệu sóng này thực ra không quan trọng, nó chỉ như một kí hiệu để hiểu cách viết vắn tắt mà thôi. Tác giả nói, kí hiệu thường đặt trên o cuối, u cuối như (aong, ong), (oung, ông). Như vậy dấu sóng này bao gồm ng cuối. Trong Ngữ pháp, chúng ta đọc thấy: (aong, ong), (cũng), maõ (maóng, móng), (oung, ông), sóũ (soúng, sống), tổ tũ (tổ tung, tổ tông).


Nói tóm lại trong ba kí hiệu này: dấu mũ sấp rất quan trọng để ghi các âm â; dấu mũ ngửa trên ă giả tạo theo tiếng Đàng Trong không có âm ă, nhưng trong tiếng Đàng Ngoài nguyên âm ă thực thụ rất quan trọng ; ngoài ra, ĕŏ thì vô dụng và sẽ biến mất; dấu sóng hay dấu lưỡi câu cũng vô dụng và cũng sẽ không được dùng.


1, 12.- Về các loại từ


Sau khi bàn giải về vần quốc ngữ, vần (chương 1) và thanh (chương 2) thì từ chương 3, tác giả đề cập tới các loại từ.


Nhưng như trên chúng tôi đã nói, Ngữ pháp latinh chú trọng tới từ dạng, tức các loại từ, trong đó có bốn loại từ chuyển biến là danh từ, tính từ, đại từ và động từ, và bốn loại từ bất biến là phó từ, giới từ, liên từ và thán từ. Ngữ pháp tiếng Việt 1651 hoàn toàn theo Ngữ pháp tiếng latinh. Chúng tôi kê khai thành hai cột để thấy rõ mục lục của hai cuốn:


Ngữ pháp tiếng latinh


Phần I về từ dạng


1. Các danh từ:


Mấy cách chia danh từ


2. Các tính từ


Cách so sánh


3. Các đại từ:


Các loại đại từ


4. Các động từ


Những cách chia động từ


5. Các phó từ


6. Các giới từ


7. Các liên từ


8. Các thán từ


Phần II về các từ trong mệnh đề


Phần III các mệnh đề trong câu


Ngữ pháp tiếng Việt 1651


1. Về danh từ (chương 3)


Số ít, số nhiều


2. Về tính từ (chương 3)


Cách so sánh


3. Về các đại từ (chương 4)


Các đại từ khác (chương 5)


4. Về các động từ (chương 6)


Về các thì (thời), các thức (thể)


Về những thành phần bất biến (chương 7)


Giới từ


Phó từ


Liên từ


Thán từ.


Một số qui tắc liên quan tới cú pháp (chương chót tức chương 8)


Như trên chúng tôi đã phỏng đoán, hoặc là từ những năm đầu 1615-1617 ở Đàng Trong, nhóm người tiên phong học tiếng Việt, họ đã lấy ngữ pháp latinh làm cơ sở nghiên cứu và học hỏi, hoặc là sau này, khi Đắc lộ khởi thảo, ông cũng lấy ngữ pháp latinh làm căn bản. Cũng có thể, về tới Rôma, khi soạn phần latinh cho Từ điển, ông đã viết ngay ngữ pháp, với những điều ông đã ghi nhận trong những năm lưu trú ở Việt Nam. Có thể ông đem cuốn ngữ pháp latinh, rồi vừa dịch, vùa vận dụng thế nào cho những người thông thạo La ngữ học được tiếng Việt. Do đó, chúng tôi cũng đã nói: đọc Ngữ pháp tiếng Việt, không những chúng tôi hiểu tiếng Việt, mà còn biết thêm về tiếng latinh, đọc Ngữ pháp tiếng Việt, chúng tôi mới biết khi phải dịch sang tiếng latinh, chúng tôi phải dùng những thì, những thể của động từ latinh thế nào cho đúng. Tiếng Việt không có những tinh vi, khúc chiết, tỉ mỉ của động từ latinh.


Về danh từ, Ngữ pháp cắt nghĩa dài dòng về số ít, nhất là số nhiều. Đắc lộ đưa ra ba cách để nói về số nhiều: 1. Một là có những phụ ngữ đặt trước danh tù như: chúng, mớ, dững, những. 2. Hai là có những từ chỉ tính cách tập đoàn, phổ quát như coên ( quân ), các, mọi, nhều ( nhiều). 3. Ba là có những tiếng chỉ chung một loại, một giống, như gà, lợn; khi nói mua gà, mua lợn thì thường thường gà/ lợn thuộc số nhiều.


Về tính từ, Ngữ pháp viết rất sơ lược, một vài thí dụ về so sánh, nhưng về đại từ chỉ ngôi thì tác giả dài giòng bàn luận hơn. Ở đây phải nói ông đã để í tỉ mỉ và khá cặn kẽ. Thực ra cách xưng hô trong gia đình, ngoài xã hội thì khá phức tạp.


Về ngôi thứ nhất số ít có : tao, tôi, tớ, min, số nhiều có : chúng tao, chúng tôi, chúng tớ, chúng min hay mớ tao, mớ tôi, mớ tớ.


Tác giả cũng cho biết, ở đầu câu văn hay lời nói, thường phải tùy cấp bậc mà thưa : tâu bvua, dộng chúa, thân đức ông, bạch đức thày, chièng thày, thưa thày. Lại còn có những cách dùng danh từ làm đại từ ngôi thứ nhất trong những liên hệ gia đình, họ hàng, bởi vì không thể dùng chữ tôi, tao được. Đó là những liên hệ thày tlò, cha con, mẹ con, anh em, chị em


Về ngôi thứ hai, bởi vì tiếng Việt chỉ có chữ mày, số ít, chúng mày, bay, số nhiều, khá không lịch sự, không thích hợp cho hết các trường hợp, cho nên phải dùng tới những danh từ liên quan tới những liên hệ gia đình, xã hội như: cha con, mẹ con, anh em, chị em, em bạu, cô bác , chú dì, cậu mợ, thày trò. Có khi phải dùng tới chính tên gọi, tên quan, tên danh dự thuộc chức tước.


Về ngôi thứ ba, cũng tương tự, chỉ có số ít, chúng nó, số nhiều; tôn trọng thì có người, con người.


Tới các đại từ khác, tác giả cũng bàn giải chút ít như đại từ tương hỗ, đại từ chỉ định, đại từ quan hệ, đại từ nghi vấn, nghi vấn về tính chất sự vật, về cách thế, về nguyên nhân, về số lượng. Tác giả chỉ việc dựa theo ngữ pháp latinh mà chuyển qua ngữ pháp tiếng Việt, chúng tôi có cảm tưởng đó.


Về động từ thì quả là rõ rệt, tác giả bàn về cách chia động từ: tôi iêo (yêo, yêu), mày iêo, nó iêo, chúng tôi iêo, chúng mày iêo, chúng nó iêo. Có cách nói về các thì, ít ra về hiện tại, quá khứ và tương lai như: đã về, đã nói, sẽ đi. Lại còn có các thể (thức) như mệnh lệnh, nguyện vọng và nhất là cả hai thể khá tinh vi trong La ngữ là thể gerondif ba cách và thể supin hai cách kể cả participe nữa. Vì thế như chúng tôi đã nói: tác giả viết Ngữ pháp tiếng Việt cho người thông thạo tiếng latinh học tiếng Việt và cũng đồng thời như cho người Việt Nam học tiếng latinh.


Về các thành phần bất biến trong câu văn, tức về giới từ, phó từ, liên từthán từ, tác giả chỉ việc phiên dịch từ La ngữ qua Việt ngữ. Dẫu sao cũng là công việc rất hữu ích, độc đáo, sáng tạo ở vào thế kỉ 17 này, khi mà từ mấy chục thế kỉ, chúng ta chưa học tiếng mẹ đẻ theo một thứ ngữ pháp như ngữ pháp tiếng Việt này.


Về cú pháp, vắn tắt chỉ có một chương ngắn gọn, với 8 qui tắc súc tích. Chúng tôi có cảm tưởng ông thích con số 8, bởi vì có Phép Giảng tám ngày, Ngữ pháp tám chương Cú pháp tám qui tắc.


Để kết luận về cuốn sách, ông viết: “Còn nhiều điều nữa, khi dùng sẽ biết, những điều ít ỏi này chỉ mới phác ra, nhưng coi là tạm đủ vậy.”


Bây giờ chúng tôi mời độc giả xem Phần 2 về Từ điển Ngữ pháp trong đó chúng tôi ghi chú như thế này: số trang trong nguyên bản latinh, nếu ở vào đầu trang thì chúng tôi ghi đ, nếu ở vào giữa thì chúng tôi ghi g và ở cuối thì viết c thí dụ: a, 2c tức cuối trang 2, ai tức đầu trang 5. Tiếp ngay sau là Phần 3, bản dịch Việt ngữ với lời chú thích. Sau cùng việc tra cứu phần phụ, tức nguyên bản Ngữ pháp 1651 bằng tiếng la tinh là rất bổ ích, vì như chúng tôi đã nói: chúng ta nhìn tận mắt, xờ tận tay nguyên bản 1651, đã có từ gần 350 năm nay. Đó là hiến chương chữ quốc ngữ của chúng ta.


Phần II


Từ điển Ngữ pháp tiếng Việt của Đắc lộ (1651)


- A -


A : chữ thứ nhất trong tự mẫu, 2c.


Ai : quis, thí dụ về chữ i đặt sau một từ, 5 đ.


Ai : qui, đại từ quan hệ: ai muấn thì làm, qui vult is faciat; ai có cơm thì ăn, qui habet coctam orizam is edat, 21 đ.


Ai : quis, đại từ nghi vấn, về người mà thôi : ai nói, quis loquitur; dững, những ai làm, quinam fecerunt ? 21 c.


Ai : quis, đại từ nghi vấn : ai đến, quis venit ? áo ai, vestis cuius ? cho ai, datur cui, keo (kêu) ai, vocas quem, đi cùng ai ? is cum quo, 21c, 22đ. - Chữ quis latinh chia theo các cách, còn chữ ai trong Việt ngữ thì bất biến.


Ai : aliquis, đại từ quan hệ vô định: có ai đi cùng, est ne aliquis simul ? ; ai là ai, ai nấy, quicumque : ai là ai muấn thì làm, quicumque vult faciat, ai nấy nghe thì thưâng, quicumque audit, miseretur, 22đ.


Ai làm, quis fecit. Nếu nói về việc đã xẩy ra trong quá khứ thì động từ đặt vào thời quá khứ, fecit, (nó đã làm), 24đ.


Ác : ludere, thí dụ về chữ C đặt sau một từ, 5đ.- TĐ ghi: chơi ác , ludere.


Am : artifex eximius, thợ tinh xảo, thí dụ về chữ M đặt sau một từ, 5c.- TĐ ghi: am, am hiểu, opifex optimus, eximius, người thợ toàn hảo, tinh vi.


An : quies, thí dụ về nguyên âm A, 2c.


An : edere (ăn), an thì mới no, edendo saturaberis, 25c, thí dụ về thể gerondif tận do la tinh.


Anh : frater maior natu, tiếng xưng hô trong họ hàng, chồng tự xưng với vợ, người trên nói với người dưới, 17đ, 19đ.


Anh em : Irmaos. Tác giả dùng tiếng Bồ ở đây để hiểu anh em trai, bởi vì nếu là chị em thì tiếng Bồ là Irmaas.Thí dụ về hai danh từ liền nhau để chỉ hai sự vật thuộc số nhiều, cũng như khi viết muông chim, hoa quả thì hiểu muôngchim, hoaquả, 3đ, 18đ.


Aõ (ong) : apis, thí dụ ở chữ M, máõ, 5c; thí dụ ở dấu "lưỡi câu” aõ : aong = ong, 10g.


Áo : vestis, áo mầy cũ, vestis tua est vetus, 30đ; thí dụ nói tới tính từ hợp với danh từ, mặc dầu có một từ khác đứng giữa, ở đây phải hiểu như "áo cũ của mầy”, hợp với áo chứ không với mầy.


Áp : iuxta , giới từ, 26c.


Át là (ắt là) : profectò, liên từ, 28đ.


Át thật (ắt thật) : profectò, phó từ khẳng định, 27g.


Ăn : edere, ai có cơm thì ăn, qui habet coctam orizam is edat, 21đ.- Ở trên đây ghi an (ăn).


Ấn : sigillum, thí dụ về dấu mũ trên nguyên âm a thành â, 9c.


Ẩn : occultare, thí dụ về nguyên âm â ( giấu, ẩn ), 2c.


Âu là : phó từ nghi hoặc (dubitantis), 27g.


Ấy : en, phó từ chỉ định,


- B -


B : chữ thứ 2 trong tự mẫu, 2c.


Ba : tres, thí dụ về chữ không có dấu, 8đ; tác giả cho thí dụ: nếu nói "chém đầu nó", amputa caput illius thì "đầu” thuộc số ít còn nếu nói "chém đầu ba nó”, amputa capita trium illorum, thì "đầu”, thuộc số nhiều, 13đ.


Ba ta : nos tres, "ta” cách nói số ít, nhưng nếu nói ba ta, thì thành số nhiều, 12g.


Bà : avia, domina, thí dụ về dấu huyền, bà (bà nội, bà ngoại), bà (ông, bà), 8đ, 17g.


Bà : de solis faeminis, tiếng nói để chỉ nữ giới mà thôi, 28c.


Bà chúa : fiIia regis, con gái của vua, công chúa, 19c.


Bá : concubina Regis vel principis alicuius viri, thê thiếp của nhà chúa hay của người vị vọng nào đó; thí dụ về dấu sắc, 8g.


Bạ : res derelicta, thực ra là bã, với dấu ngã chứ không dấu nặng; thí dụ về dấu nặng.


Bả : quoddam sericum, thứ lụa mầu vàng hay nghệ, thí dụ về dấu hỏi, 9đ.


Bác : patruus Patris natu maior, anh của cha, cách xưng hô trong họ hàng, 19g.


Bạch đức thày : Vestra Paternitas, cách xưng với bậc đại sư về thày dạy hay thày đạo, 15g.


Ban ngày, interdiu; ban đêm, noctu; ban mai, manè ; ban hôm, vespere, phó từ chỉ thời gian, 27c.


Bao giờ : đặt trước động từ để chỉ thời tương lai: thày bao giờ đi, magister quando abit ( sẽ đi ); thời quá khứ: thày về bao giờ, magister quando rediit ( đã về bao giờ); có khi chỉ hiện tại: xem thấy oũ bao giờ thì tôi mầng, quando te video, nunc laetor, 24đ.


Bao nheo bấy nheo : quantumlibet ( bất cứ bao nhiêu), bao giờ bấy giờ, quandocumque, (bất cứ lúc nào), cho tôi bao nheo gạo, thì tôi blả bấy nheo bạc, quantum orizae mihi dederis, tantum argenti solvam, 22c.


Bao nheo, bao deo, bán bao nheo ? quanti vendit ? 22c.


Bao, bao mlớn, quantum magnum; bao cao, quantum altus; bao sâu, quam profundum; bao dài, quam longus; bao giờ, qua hora, 22c.


Báp (bắp) : flos ficus Indicae, thí dụ về chữ P đặt ở cuối một từ, 6g.- TĐ ghi bắp chóêi, báp nhà.


Bạu : socia, tiếng chồng dùng gọi vợ mình, hoặc người trên đối với người dưới, 17g


Bảu (bảo) : thày bảu tlò, ego moneo te ( tôi bảo trò ), cách xưng hô thày trò, 17g.


Bay : vos, chỉ ngôi thứ hai số nhiều, cũng nói: mớ bay, chúng bay , 12đ;18đ.


Bây giờ : nunc, tôi mạc ( mắc) viẹc bây giờ, ego occupor negotio nunc, thí dụ về thời hiện tại, 23c.


Bên nầy : cis, bên kia, trans, giới từ , 26c.


Bí : cucurbita, trái bí, quả bí, thí dụ về chữ i đặt ở cuối một chữ, 4c.


Biét : scire, thí dụ về chữ i đặt ở giữa một chữ, 4c.


Blả : solvere, thí dụ về phụ âm kép BL, blả (trả), 5g.


Blai : iuvenes, thí dụ nói chung về số nhiều, ngôi thứ hai, những trai tráng, 18đ


Blai : de masculis, nói về nam giới, tôi có hai đứa: một blai một gái, ego habeo duo capita, unum masculum, unum faeminam, 28c.


Blái : de fructibus, nói về loại trái cây, thí dụ blái cam, 29đ.


Blời (trời) : caelum, thí dụ về danh từ: blời, đất, người, 10 c.


Blời (trời) : caelum, Cha chúng tôi ở tlên blời, 21g.


Bởi : a, ab, giới từ, 26c.


Bởi : ex, de, giới từ 27đ.


Bụt : idolum, thí dụ về phụ âm T đặt cuối một chữ, 7đ.


- BV -


BV, chữ bêta Hilạp, một trong hai phụ âm mới của vần quốc ngữ, 2c.


BV, chữ bêta Hilạp đọc gần như beth Do thái, 3đ. Thực ra tác giả chưa kể Bv thành một chữ trong tự mẫu. Lúc này ông cho biết có hai B là B và Bêta mà thôi.


Bvã (vả) : colaphus, colaphizare, thí dụ về dấu ngã , 8c.


Bveào : ingredi, thí dụ về chữ bêta, 3đ.


Bveào : ingredi, thí dụ về cách truyền khiến : cất sách bveào, reconde librum, đối với: léy áo ra, affer vestem, 24g.


Bvối (với), interdum, etiam, liên từ tập hợp, 28đ.


Bvợ : uxor, thí dụ về nguyên âm ơ, một chữ mới trong vần quốc ngữ, xem sau, 6đ.


Bvua (bua, vua) : rex, tâu bvua (bua) vạn tuế, Vestra Majestas, xin chúc vua sống lâu trường thọ muôn tuổi, 15đ.


- C -


C : chữ thứ 3 trong tự mẫu , 3đ.


Cá : piscis, thí dụ về phụ âm C đặt ở đầu một chữ, 3đ.


Cả : maior (lớn hơn cả), thí dụ về cách gọi tên, ông Cả Trục, 18c.


Cả : magnus, Chúa cả, Dominus magnus, thí dụ về tính từ đi theo và hợp với danh từ theo cú pháp tiếng Việt, 29g.


Cả lòng, magnum cor, cả gan, magnum hepar, thí dụ về tính từ có thể đặt trước danh từ ,29c.


Các : chỉ số nhiều, các thầy, omnes magistri (hết các thầy), 12c.


Cách : modus, thí dụ về cách đọc CH sau một từ, như đọc chữ Bồ cacha mà bỏ a cuối cùng đi để thành cách, 4c.


Cách nào : quomodo, đại từ nghi vấn: cách nào thể nào, quomodo, qua ratione; việc ấy làm cách nào, illud negotium quomodo fit, 23đ.


Cai : superior (kẻ trên cai trị), thí dụ về nguyên âm i, phân biệt với y trong cây, 5đ.


Cái : để chỉ về giống cái, đối với giống đực, như bò cái, vacca, 28g. Cái : tiểu từ chỉ trống một sự vật, cái này, res haec, 28g.


Cao : altus, thí dụ về việc không dùng hai chấm để khỏi lẫn lộn, 7đ.


Càu (cầu) : pons, thí dụ về chữ u đi với một nguyên âm khác, 7đ.


Cậu : frater Matris (em trai của mẹ), cách gọi trong họ hàng, 19đ.


Cậu : eunichi ( quan thái giám ) được trọng dụng trong triều, 19đ.TĐ ghi cạu, cạu bộ.


Cây : arbor, thí dụ để phân biệt i và y, cai và cây, 5đ.


Cây : arbor, một từ chỉ một loại thí dụ: cây dừa, palmae, 29đ.


Cây cối : arbores, cách dùng hai danh từ nói chung để chỉ số nhiều, như muâng chim, hoa quả, 12c.


Cha mẹ, anh chị, chú bác, oũ bà : các liên hệ họ hàng ruột thịt gia đình Việt Nam, có cấp bậc xa gần, khi nói về ngôi thứ nhất, phải để ý, 17g.


Cha : Pater, xưng hô trong gia đình, 17đ, 19đ.


Cha mẹ : pater, mater, cách xưng hô trong xã hội ở ngôi thứ nhất, 18c.


Cha, anh, chú, cậu : những đẳng cấp phải để ý khi xưng hô, cũng như về nữ giới có mẹ, chị, cô, dì, 19đ, 19g.


Cha chúng tôi ở tlên blời : Pater noster qui est in caelis, lạy Cha chúng tôi ở tlên blời, Pater noster qui es in caelis, 21g. - Chú ý: trong La ngữ câu trên ở vào ngôi thứ ba, câu dưới ở vào ngôi thứ hai : estes.


Chang (chăng) : thí dụ về chữ không có dấu, chữ để hỏi, vox interrogativa, có chang ? est ne ?, 8đ.


Chảng, chảng có, có chang, chảng có đi gì sốt, chàng phải mlẽ đâu : cách nói phủ định với tiểu từ chảng (chẳng), 26đ.


Chảng cùng, (chẳng cùng) : làm chảng cùng, faciendi non est finis, thí dụ về thể gerondif tận di trong La ngữ, 25c.


Chảng kể : praeter, không kể, giới từ, 27đ.


Chảng, chảng có, chảng phải : phó từ phủ định, 27g.


Chậm : segniter, phó từ, 27g.


Chèo : remus dt, remigo dt, thuièn nầy có hai chèo (dt), cymba haec habet duos remos, tôi chèo thuièn nầy (đt), ego remigo cymbam hanc,11đ.


Chi, làm chi : đại từ nghi vấn về cứu cánh, đi đàng kia làm chi, quare itur illa alia via ? 22c.


Chị : Soror natu maior, cách người hơn tuổi hay người trên xưng với người dưới,17đ.


Chị em : irmaas, hai danh từ liền nhau, chỉ số nhiều, cũng như anh em, 13đ.


Cho chóng : velociter, phó từ, 27g.


Chốc, giốc, phải chốc : ita est omnino, cách nói khoa trương, cường điệu với tiểu từ chốc, giốc, 26đ.


Chớ : ne, đừng, chớ đi, ne eas, 21c, 27g.


Chớ gì : utinam, thể nguyện ước: chớ gì tôi kính mến Chúa tlên hết mọi sự, 25đ, 27đ.


Chú : frater minor Patris, em của cha: cách xưng hô theo tôn ti, 19đ.


Chúa bà : regina, hoàng hậu, 19c.


Chièng : tiếng thưa hỏi lịch sự tôn kính, theo tôn ti đẳng cấp: tôi chièng ông, Vestra Dominatio, tôi chièng thày, 15c.


Chung quanh : circa, giới từ, 26c.


Chúng : chỉ số nhiều, chúng tôi, nos, chúng mầy, vos, chúng nó, illi, 11c,15đ. Chúng bay: vos, 12đ.


Chúng mớ tôi : omnes nos, tất cả chúng tôi, 12đ.


Chúng ta : nos, 12đ.


Chư tướng : duces, khi nhà vua nhà chúa nói với các tướng sĩ thì không xưng tau (tao), nhưng ta, 18đ.


Chước : industria, thí dụ về nguyên âm ơ theo sau ư, 6g.


Chưỡng (chưởng) : một chức thấp ở Đàng Ngoài, nhưng ở Đàng Trong là chức thuộc anh em hay họ hàng gần với nhà chúa, 19g.- TĐ cũng ghi như thế.


Có : habere, thí dụ về nguyên âm o, 6đ.


Có : phụ từ làm mạnh ý nghĩa, thí dụ: có đi thì đến, si iveris pervenies, có tìm thì được, si quaesieris invenies, 25đ.


Có í : thàng áy có í hăọc, puer ille habet animum addiscendi, thí dụ về thể gerondif tận di, 25c.


Coên, cuên (quân) : milites, thí dụ về một số chữ chỉ số nhiều, 18 đ .


Con : dùng ngôi thứ nhất khi Đức Giêsu thưa với mẹ mình, " con nói cùng mẹ", hiểu như: tôi là con tôi thưa với Người là Mẹ, ego filius alloquor te Mater .- Tác giả nhấn mạnh tới lối xưng hô theo tôn ti trong gia đình, ngoài xã hội, lấy danh từ làm ngôi thứ nhất, 16c, 17đ.


Con : Con Chúa blời, căn dặn dùng những cụm từ như trên để nói về ngôi thứ ba khi xưng hô hay phải nói tới, 20đ.


Con : tiểu từ chỉ loại, thí dụ về giống vật, thì nói: con gà, gallina, con bò, bos, 28c.


Con : parvulus, bé nhỏ, tính từ, như gà con, pullus, bò con, vitulus, 28c.


Con : nói về nữ giới, de faeminis, 28c.


Cô : amita, Soror Patris, em gái của cha, thí dụ về nguyên âm ô, 6đ; 19đ.


Cớ sao : nghi vấn về nguyên do, cớ sao, hay cớ nào , Chúa chịu cớ sao ? Dominus passus est qua de causa ? 23đ.


Cơm : oriza cocta, gạo nấu chín, thí dụ về nguyên âm ơ, 6đ.


Cùng, cũng, bvối, và : cum, phó từ, 27đ.


Cũng bvậy, cũng bvầy : similiter, phó từ, 27c.


Cù (cùng) : simul, thí dụ về dấu lưỡi câu trên nguyên âm u, 7đ.


Cực : thuộc về tối cao đẳng cấp, lớn, cực mlớn, maximus, tội cực trạõ, peccatum maximum, cực làõ, maxima miseria, 13c, 14đ.


Cười : cười mày, rident te (người ta cười mày), mầy cười, tu rides, chủ ý nói: chủ từ thì đặt trước động từ, bổ ngữ thì theo sau động từ, 29đ.


- D -


D, chữ thứ 4 trong tự mẫu, nói là đọc theo La ngữ, nhưng thực ra không hẳn thế. Tác giả còn cho thêm chữ e có dấu mũ ngửa, để đọc cho dịu, thí dụ dea, thì đọc da, deạy deỗ đọc dạy dỗ, 3g.


Dà (nhà) : casa, cho thí dụ về nguyên âm a, 3g.


Dạ : lời thưa lại lịch sự, kính trọng, cum honore, như gọi dạ hỏi thưa, 27g.


Dạy : docere, thí dụ về chữ y để tránh dùng tới hai chấm và như thế tránh được việc dùng quá nhiều kí hiệu, 7c.


Dầu, Dầu mà, dù mà : etiamsi : liên từ đối nghịch, coi : dù mà, 25đ.


Dĕa (da) : pellis, thí dụ về phụ âm D, 3g; thí dụ về E có dấu mũ ngửa, 10đ.


Dĕạy deổ ( dạy dỗ) : docere, thầy dĕạy dĕổ người ta, magister docet homines, thí dụ về hai động từ liền nhau mà chỉ có một nghĩa là dạy. Chú ý, viết với dấu ngã, chứ không với dấu hỏi, 25g.


Dễ : acilis, nói thì dễ làm thì khó, dictu facile, actu difficile, thí dụ về thể supin tận tu trong động từ latinh, 26đ.


Dì : soror Matris, em của mẹ, tác giả nói tới tục không gọi mẹ là mẹ mà là chị, cô, dì, 19g.


Dò : pedica, cái bẫy, thí dụ về dấu huyền, tên nốt nhạc thứ nhất trong âm giai, Dò rẹ mĩ pha sổ lá, đo re mi fa sol la, 9g.


Dồ : circiter, giới từ có nghĩa là phỏng chừng, 27đ.- TĐ ghi: dĕồ, mấy lần dĕồ .


Dọũ Chúa muân nam ( dộng= tâu lên): dộng Chúa muôn năm, Vestra Altitudo (Votre Altesse), cách thưa với chúa, 15g.


Dù : umbrella, cái dù, cái ô, thí dụ về nguyên âm U, 7đ.


Dù : etiamsi, dù mà có đạo saõ le cũ phải giữ, etiamsi habeas legem, tamen, servanda est, 25đ.


Dù mà, tuy là, dầu mà : quamvis, liên từ, 28đ.


Dữ : malus, austerus, thí dụ về nguyên âm Ư, 7g.


Dững ( những ) : đi với ai chỉ nghi vấn, những ai làm, quinam fecerunt ?, 21c.


Dững ( những ) : chỉ số nhiều, 11c; 22đ.


Dưới : infra, giới từ, 26c.


Dượm, dượm đã : exspecta, cũng như khoan đã, 24c.


- Đ -


Đ, phụ âm mới trong vần quốc ngữ, 2c.


Đ, phụ âm được bàn giải sau phụ âm D, 3g.


Đa đa : perdrix, chim đa đa, thí dụ về phụ âm Đ, 3g.


Đã : iam, chỉ thời quá khứ hoàn toàn, đã về, iam rediit, đã nói, iam locutus; quá khứ, quá hoàn toàn, hôm kia khi oũ đến đã chép thư đoạn, nudius tertius cùm venisti epistolas iam scripseram, 23c, 24đ.


Đã đến giờ hăọc: advenit hora discendi, thí dụ về thể gerundi tận di trong động từ la tinh, 25c.


Đăọc sách : tu legis librum, sách mày đăọc, liber a te lectus, hay liber quem tu legis, thí dụ về đại từ quan hệ trong tiếng latinh: sách mày đọc, hiểu như sách mày đọc, hoặc sách bị mày đọc. Nói chung, động từ tiếng Việt đặt trước túc từ, 21đ.


Đất : terra, thí dụ về danh từ, 10đ.


Đâu : phụ ngữ đặt sau mệnh đề phủ định làm tăng thêm ý phủ định: chảng phải mlẽ đâu, non est conforme rationi ullo modo, 26đ.


Đầu : caput, chém đầu nó, amputa caput illius, chém đầu ba nó, amputa capita trium illorum, thí dụ về số ít số nhiều, nếu là nó thì số ít, còn nếu là ba nó thì số nhiều, tức một đầu và ba đầu, theo ngữ pháp tiếng latinh, 13đ.


Đầu hết : primum, phó từ về thứ tự, 27c.


Đây : hic, phó từ chỉ nơi, 27g.


Đấy : illic, phó từ chỉ nơi, 27g. Đi có việc : cách lấy tên mình làm ngôi thứ nhất, thí dụ Ioannes đi có việc, tôi là Ioan tôi đi có việc, ego eo ad negotium, 16đ.


Đi : thí dụ về thể truyền khiến, imperativum, mầy đi cho cháõ, ito statim, chèo đi, remiga, hăọc đi, addhisce, 24g.


Đi, tôi đi, ego eo, thể hiện tại thông thường, 24g.


Đi : thí dụ về thể vô định trong tiếng latinh, khi hai động từ đi liền nhau thì động từ thứ hai thuộc thể vô định: tôi đi xem lễ, ego eo audire sacrum, 25g.


Đoạn : actum est, việc nầy đã đoạn, hoc opus actum est, thí dụ về thể bị động trong La ngữ: việc này đã được làm xong, đoạn là hết, xong, rồi, 26g.


Đứa : tiếng chung chỉ cả trai lẫn gái, thí dụ: tôi có hai đứa, một blai, một gái, habeo duo capita, unum masculum, unum faeminam, 28c.


Đực : chỉ giống đực về giống vật, thí dụ bò đực, bos, 28g.


Đừng : ne, thể truyền khiến, thí dụ: đừng làm, ne facias, 24c.


Đừng : phó từ chỉ cấm đoán, 27g.


- E –


E, chữ thứ 5 trong tự mẫu, 3c.


Em : frater, soror, em trai, em gái, thí dụ về chữ E, 3c.


Em : frater, soror, thí dụ về chữ E khác với Ê : em, mềm, 10đ.


Em : cách xưng hô ở ngôi thứ hai, thí dụ vợ xưng em khi nói với chồng, 17g.


Éy (ấy) : id, đại từ chỉ định, 20g.


Êm : suavis, mollis, thí dụ về chữ Ê, 3c.


- G –


G, chữ thứ 7 trong tự mẫu, 4đ.


Gà : gallina, thí dụ về G, 4đ.


Gà : mua gà, emere gallinas, gà ở số nhiều trong La ngữ, vì nói chung hiểu về số nhiều,12c.


Gái : de faeminis, tiếng chỉ nữ giới đối với blai, nam giới, 28c.


Gần : propè, giới từ, 26c.


Ghe, ghi : viết và đọc theo người Ý, 4đ.


Ghe : crista, mào gà, mồng gà, thí dụ về GH đọc như người Ý, 4g.


Ghi : notare, biên chép, thí dụ về GH đọc như người Ý, 4g.


Gì : quid, đại từ nghi vấn, cái nầy là đi gì, quid est hoc ? 22g.


Gì : đại từ nghi vấn về bản thể sự vật, đi gì, gì: muấn đi gì, quid vult, có việc gì, quod negotium habet ? , 22c.


Gia, gio, giu, giơ, giư : đọc như tiếng Ý, vì tiện hơn và đã viết như vậy rồi, 4đ.


- H –


H, chữ thứ 8 trong tự mẫu, 4g.


Há : aperire os, mở miệng, thí dụ về chữ H, 4g.


Hăọc tlò : discipulus, thí dụ về cách dùng danh từ để xưng ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai: thày bảu (bảo) hăọc tlò, ego te moneo, tôi (là thày) bảo anh (là học trò), 16g.


Hăọc tlò : adolescentes, thanh niên trai tráng, 17g.


Hay, hay là : aut, vel, liên từ phân biệt, 28đ.


Hãy : ut, phó từ truyền khiến, hãy làm việc này, fac negotium hoc, 24c; 27g.


Hẻ : thán từ, vui: mầng hẻ; đau thương: thương hẻ, khó hẻ, cha ôi, hĩ ôi; xót xa: hại hẻ; khóc lóc: hơi hư hư. Hê hê : thán từ chế nhạo, 27c.


Hết : omnes, tất cả: đi hết, ite omnes, hết tất cả hãy đi, 12c.


Hoa quả : fructus, thí dụ về số nhiều gồm hai danh từ liền nhau, hoa và quả, 12c.


Hòa, và : et, liên từ nối, 28đ.- Trong các sách kinh bổn, người ta vẫn dùng cả và, do cả hòa : Hai tình trọn cả hòa hai, Kiều.


Hoạc, hoạc là : si fortè, hoạc là có biét người, si fortè novisti hominem, 25đ.


Hoạc là : phó từ nghi vấn, 27g.


Hòm : arca, thí dụ về chữ o, 10 đ.


Hôm nay : hodie, phó từ về thời gian, 27g.


Hôm qua : heri, phó từ về thời gian, 27g.


Hơi hư hư : thán từ khóc lóc, 27c.- Nhân tiện, tác giả cho biết, trong đám tang, người ta khóc rất thảm thương với nhiều lời than ôi ! .


Hơn : magis, hơn nữa, magis adhuc, lối nói so sánh : tốt, tốt hơn, tốt hơn nữa; hoa nầy tốt hơn hoa kia; lành, lành hơn, lành hơn nữa; hơn nữa thường đặt sau mệnh đề; blái nầy lành hơn blái nọ, blái kia lành hơn nữa. Cũng có khi không cần tới chữ hơn, thí dụ: hai người nầy, người nào lành, 13c


- I –


I, chữ thứ 9 trong tự mẫu, 4c, 5đ.


Í, vô í : fortè, tình cờ, phó từ, 27c.


Iêo (Yêo, yêu) : amare, chia theo tiếng latinh: tôi iêo, ego amo, mày iêo, tu amas, nó iêo, ille amat, chúng tôi iêo, nos amamus, chúng bay iêo, vos amatis, chúng nó iêo, illi amant, 23g.- Ở trang 31, trong bản đính chính, tác giả xin chữa iêo thành yêo.


Ít : parum, phó từ chỉ số lượng, 27c


Yả : cacare, thí dụ về việc sử dụng Y để khỏi lẫn với i phụ âm là j ; nếu viết iả thì lầm là jả, 5đ.


Yêo, coi trên: iêo.


Yêo : ai yêo, qui amat, idest amans, thuộc về thể participe trong tiếng latinh; kẻ yêo, qui amant, idest amantes, số nhiều, 26g.


Yếo ( yếu) : debilis, thí dụ về việc sử dụng Y như trên, 5đ.


- K -


K, chữ thứ 10 trong tự mẫu, 5đ.


Kẻ : chỉ số nhiều, những người, kẻ quê, rustici, kẻ mọn, plebei aut infimi, tôi là kẻ mọn, ego sum iter infimos, 12g.


Kẻ : chỉ số nhiều, kẻ có tài thì hăọc, qui habent ingenium, illi discant, 21đ; kẻ có đạo, 30đ


Kể : numerare, đếm, thí dụ về chữ k, 5đ.


Khá : decet, aequivalet, thí dụ về kh hay chữ khi hilạp, ở chữ H, 4g.


Khác : aliter, cách khác, phó từ, 27c.


Khác : aliud, sự khác, điều khác, thí dụ về chữ khi hilạp, ở chữ K, 5đ.


Khó : difficilis, nói thì dễ làm thì khó, dictu facile, actu difficile, thí dụ về thề supin tận tu La ngữ, 26đ.


Khoan : exspecta, thuộc thể truyền khiến, cấm đoán: khoan đã, khoan đã nào, 24c.


Kí : scriptor, người viết, kí giả, thư kí, ông kí, thí dụ về chữ k, 5đ.


Kia : alius, trong mấy tỉnh khác lại nói là tê: đàng nọ đàng kia, illa via illa alia, 20g.


Kien louc : kiện lực, kiện tráng, kiện khang, một trong mấy tên nhà vua nhà chúa ban cho gọi là tên quan, 18g.


Kính mến đức Chúa blời tlên hết mọi sự : amare Deum super omnia, thí dụ về động từ ở thể infinitif khi không có chủ từ, 25g.


- L -


L, chữ thứ 11 trong tự mẫu, 5g.


La : phụ ngữ đặt sau cùng để chỉ cường độ, củng cố khẳng định: phải la, recte dicis, 30c.


Lá : folium, thí dụ về chữ L, 5g.


Lá : folium, thí dụ về dấu sắc, 9g.


Làm ; Petrus làm việc éy, Petrus faciat opus illud, cách dùng ngôi thứ hai, hiểu như: Petrus, anh hãy làm việc ấy, 17g


Làm chi : ad aliquid, đại từ nghi vấn: đi đàng ấy làm chi ?, quare vel ad quid itur haec via ? 22g; hỏi về cứu cánh : đi đàng kia làm chi ? quare itur illa alia via ? 22c.


Làm sao : hỏi về í hướng, í định : í nầy làm sao, quale fuit intentum ? 23đ.


Lám (lắm) : valde, cao, altus, cao lám thay, altissimus, 14đ.


Làn : devolvere, lăn (?), thí dụ về chữ I, cũng có nơi nói plàn, nhưng tác giả nhận rằng rất ít trường hợp người ta dùng phụ âm kép PL, 5g.


Lão : đức Lão, mẹ nhà vua nhà chúa thì gọi là đức Lão, 19g.


Lần : volta, chỉ số đếm, một lần, una volta (tiếng Ý), hai lần, due volte (tiếng Ý), 27c.


Léy (lấy) : per, giới từ, 26c.


Lien (liên) : semper, phó từ, 26c.


Lợn : mua gà, lợn, emere gallinas, porcos, thí dụ về số nhiều khi nói chung về giống vật, trong tiếng Việt thường không viết rõ số nhiều, nhưng hiểu là số nhiều,12c.


- M -


M, chữ thứ 12 trong tự mẫu, 5c.


Ma : mors, thí dụ về chữ M.- Tác giả hiểu maxác chết (mors), có thể theo tin tưởng dân gian: sống làm người, chết ra ma, 5c.


Mà : solum, phó từ: mà thôi, 27c.


Mà : phụ ngữ để ghi thể gerondif tận dum trong La ngữ: tôi ngồi mà nghe, sedeo ad audiendum, 25c.


Mà : phụ ngữ để ghi thề supin tận tum : mầy đi mà nàm (nằm), ito cubitum, 25c.


: interdum etiam, liên từ nối, 28đ.


Mạc (mắc) : thí dụ về thời hiện tại: tôi mạc việc bây giờ, ego occupor negotio nunc, thí dụ về thời quá khứ chưa hoàn toàn: hôm qua tôi mạc chép thư, nói chảng được, heri occupabar scibendis literis, loqui non poteram, 23c.


Mái : chỉ giống cái , thí dụ: gà mái, gallina, 28g.


Mám (mắm) : piscis sale conditus, cá ướp muối, thí dụ về chữ M, 5c.


Mạnh : robustus, thí dụ về NH cuối một chữ, đọc chữ Bồ manha, bỏ a, 4c.


Máõ (móng) : unguis, thí dụ về chữ M, 5c.


Mày : tu, đại từ chỉ ngôi thứ hai số ít, 17đ, 17g.


Mày : cha mày, pater tui nghĩa là pater tuus, cả hai đều có 1 nghĩa là cha của mày, 20c.


Mâm : mensa parvula, cái bàn nhỏ bé, thí dụ về chữ M, 5c.


Mậu tài : một trong mấy tên nhà chúa ban cho gọi là tên quan : ông mậu tài, 18g.- Khi Đắc Lộ tới Kẻ Chợ năm 1627, thì ở nhà một viên quan tên là Mậu tài, coi: Truyện Vương quốc Đàng Ngoài, q.2, ch.12.


Mầy : tu, đại từ ngôi thứ hai số ít; chúng mầy, vos, số nhiều, 11c, 14c.


Mẹ : mater, mẹ theo con (hiểu như: tôi là mẹ tôi theo "ngươi" là con); con nói cùng mẹ (hiểu như tôi là con tôi nói cùng "bà" là mẹ), cách xưng hô trong tiếng Việt khá tế nhị và phiền toái, 16c, 17đ.


Mềm : mollis, thí dụ về nguyên âm ê, 9c.


Mến : amare, thí dụ về danh từ theo sau động từ là bổ từ (cho động từ ấy): tôi mến Chúa, ego amo Dominum, Chúa mến tôi, Dominus amat me, 29g.


Mĩ : tên một giòng họ, nomen cuiusdam familiae, thí dụ về dấu ngã, 9g.


Min : ego, tiếng người vị vọng, kẻ bề trên tự xưng và nói với người dưới, 15đ.


Mình : sui, sibi, se đại từ tương hỗ, ai néy (nấy) lo sự mình, unusquisque curat res suas, nhưng thực ra cũng có lối nói khác để chỉ đại từ tương hỗ, thí dụ: cha lo việc cha, con lo việc con, 20đ.


Mlẽ (lẽ, nhẽ) : ratio, thí dụ về phụ âm kép ML, 5g.


Mlời (lời, nhời) : verbum, mlời Chúa thật, verbum Dei est verax, lời của Chúa thì thật, 30đ.


Mọi : omnes, chỉ số nhiều, tất cả: mọi ngày, omnes dies, 12c.


Mọn : mọn, kẻ mọn, tôi là kẻ mọn, xem: kẻ, 12g.


Mớ : phụ ngữ chỉ số nhiều ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai: mớ tôi, nos, mớ bay, vos, mớ mầy - không nói, mà nói: chúng mầy, chúng bay, 11c, 12đ.


Mới : cách nói thể gerondif latinh : làm thì mới giàu, faciendo ditaberis, an (ăn) thì mới no, edendo saturaberis, 25c.


Muân : decem millia, chỉ số nhiều, muân vật: mười ngàn sự vật, còn có nghĩa là hết các sự vật cấp dưới, 12c.


Muâng (muông), muâng chim : hai danh từ liền nhau, chỉ số nhiều, muông và chim,12c.


Mưa : pluvia, thí dụ về chữ ư, 7g.


Mựa : chỉ thể truyền khiến, mựa hề nói dối, nullo modo mentiaris, chớ hề nói dối, 24c.


- N -


N, chữ thứ 13 trong tự mẫu, 5c.


Nả : đại từ nghi vấn, bao nả, quomodo vales ?, có việc gì nả, est ne aliquod negotium?, thàng ấy ở kẻ nào nả ? puer ille cuius est ?, 23đ.


Nào : đại từ, bò nào béo thì mạnh, bos qui est pinguis, is est fortis, thàng nào lành thì deạy, puerum qui est bonus sive bonae indolis, hunc doce, áo nào dài thì tốt, vestis quae est oblonga, illa est pulchra, 21c.


Nào : từ chỉ nghi vấn, nhà nào, quae domus, viậc nào, quod negotium, thầng nào, quis puer, người nào, quis homo, 21c.


Nào : quomodo, phó từ : thể nào, nhường nào, dường nào; thể nào thể nào, quomodocumque, 27đ.


Nào : đặt sau như nhà nào, quae domus, đặt trước thì có nghĩa như chẳng có gì, ở đâu: nào sách, ubi est liber ?, nào thàng ấy, ubi est puer ille ?, nào có, ubi est idest non est, (ở đâu với nghĩa là không có), nào có mlẽ gì, quaenam ibi est ratio ? idest, nulla ratio, (có lí lẽ nào đâu, với nghĩa là không có lí lẽ gì hết), 22g.


Nây, nầy : iste, ista, istud; is, ea, id, đại từ chỉ định, 20đ.


Nếo (nếu) : si, liên từ, nếo hăọc thì biét, si didiceris tunc scies, 25đ.


Ngà : ebur, thí dụ về phụ âm kép NG , đọc như chữ ngain dothái, 4đ.


Nghe : audire, thí dụ về chữ N, Ngh, 6đ.


Nghĩ (nghỉ) : chữ cổ có nghĩa là dễ, 26đ.


Ngoài : extra, giới từ, 27đ.


Nguẹt (nguyệt, mặt trăng) : luna, thí dụ về cách đọc ngu, như tiếng Ý, thực ra viết sai là guẹt bản đính chính ở trang 31, xin chữa là nguẹt, 7c.


Ngươi : tu, một từ chỉ ngôi thứ hai: tớ làm chi ngươi, ego quid curo te ? 14c.


Người : homo, thí dụ về danh từ, 10c; người (số ít), người ta (số nhiều), homines, 12g.


Người : ille, đại từ chỉ ngôi thứ ba một cách cung kính: người, ille, con người, filius illius, dùng để chỉ " đức Con đức Chúa Cha ", 19c.


Người : cách nói tôn trọng về nữ giới như nam giới, tương tự như trên: 19c; 28c.


Nhà : domus, thí dụ về cách đọc NH theo người Bồ, nếu theo người Ý thì ghi GN, 4c.


Nhà chúa: domus domini, nhà của chúa; chúa nhà: dominus domus, chúa của nhà, 29c.


Nhềo, dềo (nhiều, dều) : multum, phó từ chỉ số lượng, 27c.


Nhin vì sự áy (nhân vì sự ấy) : propterea, liên từ, 28đ.


Nhin sao : đại từ nghi vấn về nguyên do: nhin sao, cớ sao, cớ nào, vì sao, í sao, nhin sao đức Chúa blời ra đời, quam ob causam Dominus caeli natus est in mundo, 23đ.


Nhỏ : parvulus, thí dụ về tính từ theo sau danh từ, thàng nhỏ, puer parvulus, 29g.


Như, như bàng : sicut, phó từ, 27c.


Những : chỉ số nhiều, thàng này ( số ít ), những thàng này ( số nhiều ), 11g.


Nó : ille, đại từ chỉ ngôi thứ ba, số ít, 11c, 13đ, 19c, 20c.


Nó : ille, thí dụ về việc lắp lại đại từ nó trong câu: ma quỉ nó nghét ta, nó có nhềo chước deỗ láõ người ta, nó đi, nó lại, nó muấn ta sa địa ngục cùng nó, diabolus odit nos, ille habet multas artes ad inducendum corda hominum, ille it, ille redit, ut nos cum ipso in infernum ruamus - mỗi lần nhắc lại chữ nó là mỗi lần nhấn mạnh cho thêm quyết đoán, 31đ.


Nọ : ille, illa, illud, đại từ chỉ định: đàng nọ đàng kia, viẹc này viẹc nọ; nọ, hay cùng nghĩa, theo một vài địa phương, 20g.


Nọ : đừng lẫn nhà nọ, domus illa ( nhà ấy ) với nhà nó, domus illius ( nhà của nó ) 20c.


Non : immaturus, chưa chín, thí dụ về chữ N, 5c.


Núi : mons, thí dụ về tính từ hợp với danh từ: núi nầy cao, mons hic est altus, 29c.


Nước : aqua, thí dụ về chữ ơ theo sau ư, khi đọc thì như cắn răng, mở môi, 6g.


- O -


O, chữ thứ 14 trong tự mẫu, 6đ.


Oũ (oung, ông) : avus, dominus, ông nội ông ngoại, ông (nam giới), bà (nữ giới), thí dụ về dấu lưỡi câu, 10g, 17g.


Oũ (oung, ông) : de viris, tiếng nói về nam giới, người đàn ông, 28c.


Ôi : thán từ, cha ôi ! hĩ ôi ! ,27c, 28đ.


Ốm : infirmus, thí dụ về dấu mũ đặt trên â, ê và ô, 9c.


Ơ : nguyên âm mới trong vần quốc ngữ, 2c, cách đọc chữ ơ, 6đ.


Ơ hởi ! (ơ hỡi !), phó từ kêu gọi: Ơ Petre hởi ! 27đ. Petre do danh từ riêng Petrus (Pierre, Phêrô), ở cách vocatif trong tiếng latinh.


Ở : esse, động từ, thí dụ về nguyên âm ơ, 6đ.


Ở : in, giới từ, 27đ.


Ở nơi : penès, giới từ.


- P -


P, chữ thứ 15 trong tự mẫu, 4g.


Pha : miscere, thí dụ về phụ âm PH đọc như chữ phi hilạp, 4g, 6g.


Pha : miscere, thí dụ để ghi chữ không dấu và cũng để chỉ nốt nhạc fa, 9g.


Phải : phụ ngữ để chỉ thể infinitif trong La ngữ: mầy phải làm, tibi convenit agere, 27g.


Phải : phó từ để trả lời nhận đối với kẻ bằng vai, "phải", 27g.


Phô : tiếng chỉ số nhiều: phô oũ, phô bà, 19c; những phô oũ 12g.


Phù Dũ (Phù Dung) : tên riêng nhà vua nhà chúa đặt cho gọi là tên quan,18g.


Plàn (Làn, lăn) : devolvere, thí dụ về phụ âm kép PL, khá hiếm, 5g


- Q -


Q, chữ thứ 16 trong tự mẫu, 6g.


Qua : ego, đại từ chỉ ngôi thứ nhất, cũng như ta, 14c.


Qua : transire, thí dụ về cách đọc qu theo tiếng latinh, 6g.


Que : baculus, thí dụ về cách đọc qu theo tiếng latinh, 6g.


Quì : genua flectere, thí dụ về cách đọc qu theo tiếng latinh. Nên chú ý, bởi vì theo tiếng latinh, nên không cần viết quy, quỷ, quý, quỳ mà viết qui quỉ quí quì là đủ, 6g.


- R -


R, chữ thứ 17 trong tự mẫu, 6đ.


Ra : ingredi, thí dụ về phụ âm R, 6đ.


Ra : phụ ngữ thêm vào thể truyền khiến : léy (lấy) áo ra, extrahe vestem, đối với: cất sách bvào, reconde librum, 24g.


Ráp : valde, phó từ : xấu, malus, xấu ráp, malus valdè, 14đ.


Rẹ (rễ) : radix, thí dụ về dấu nặng, theo cách phát âm của một vài miền nào đó, cũng để chỉ nốt trong âm giai nhạc Âu châu, 9g.


Rứt (rất) : từ để chỉ cấp so sánh cao nhất, cau (cao), altus, rứt cau, altissimus, thánh, sanctus, rứt thánh, sanctissimus, 13c.


- S -


S, chữ thứ 18 trong tự mẫu, 6c.


Sa : cadere, thí dụ về chữ S, 6c.


Sang : nobilis, thí dụ về ng sau một chữ, đọc chữ latinh sanguis là máu nhưng bỏ uis thành sang, hoặc đọc chữ Pháp sang là máu, thí dụ ; le sang est beau, máu thì đẹp, 4g.


Sao : đại từ nghi vấn: sao, cớ sao, nhin sao, vì sao, í sao, 23đ.


Sao : quare, phó từ nghi vấn : sao, nhin sao, vì sao, í sao, 27g.


Sau hết : phó từ, 27c.


Sẽ : tiếng để chỉ thời vị lai: sẽ đi, ego statim ibo, 24đ.


Sẽ sẽ (se sẽ) : pedetentim, phó từ, 27g.


Saõ (song), saõ le (song le) : tamen, liên từ, 28đ.


Sổ : cathalogus, thí dụ về dấu hỏi, cũng là tên một nốt nhạc sol, 9g.


Sóũ (sống) : tiếng chỉ giống đực thuộc loài gia súc: gà sống, gallus gallinaceus, 28g.


Sốt : tiếng chỉ phủ định quả quyết, est-ne ? : chảng có đi gì sốt, nihil est omninò, 26đ.


- T -


T, chữ thứ 19 trong tự mẫu, 6c.


Ta : ego, đại từ ngôi thứ nhất, kẻ cả nói với người dưới: ta nói cùng bay, ego loquor vobiscum,12đ, 14c, 18đ.


Ta : nos, chúng ta: ta đi cùng nhau, nos eamus simul,12g.


Tao : ego, tiếng người trên nói với người dưới: tao khién mầy, ego praecipio tibi,14c.


Tau (tao) : ego, tiếng kiêu căng kẻ cả, 18đ.


Tăóc (tóc) : capillus, thí dụ về dấu mũ ngửa đặt trên ă e o, 10đ.


Tật : morbus inveteratus, bệnh mãn tính, thí dụ về chữ T, 10c.


Tâu bvua vạn tué : Vestra Maiestas ( votre Majesté ), xin chúc muôn tuổi, 15đ.


Tê : ille, oũ nọ oũ tê, Dominus ille, 20g.


Tên toục (tên tục) : tên đặt cho từ hồi còn nhỏ, 17c.


Tên quan : tên danh dự vua chúa đặt cho, 18g.


Tha : parcere, thí dụ về phụ âm TH đọc như thêta hilạp, 4g.


Thàng (thằng) : puer, danh từ chia theo tiếng la tinh:


N.Thàng nầy, puer iste; Những thàng nầy, omnes pueri isti.


G. Cha thàng nầy, pater pueri huiu, Cha hai thàng nầy, pater duorum puerorum.


D.Cho thàng nầy áo, do puero huic vestem; Cho nón ba thàng, do galerum tribus pueris.


A. Keo (kêu) thàng nầy, voca puerum hunc; Dạy các thàng, doceo omnes pueros.


V. Ơ thàng kia, ò puer ille; Ơ bốn thàng kia, ò quatuor illi pueri.


A. Bởy (bởi) thàng nầy, a puero hoc; Bởi các thàng, ab omnibus pueris.


Thay : valde, phó từ; lành, lành thay; cao, cao lám thay, 14đ.


Thay vì : loco alterius, giới từ, 26c.


Thày : magister, thày bảu (bảo) hăọc tlò, (tôi là thày, tôi bảo các anh là học trò),16g.


Thân đức oũ muân tuểi : Vestra Excellentia, cách thưa với các bề trên, 15g.


Thầng (thàng, thằng), 28c; thầng ấy lành, 30đ.


Thật là : profectò, giới từ, 28đ.


Thề Chúa blời : iurare per Dominum caeli - lấy Chúa trời mà thề, 27đ .


Thể nào, quomodo, thể nào thể nào : quomodocumque, phó từ, 27đ.


Thì, vậy thì : ergo, quare, liên từ, 28đ.


Thì : tiếng chỉ nhiều nghĩa, thí dụ : có muấn thì làm, có tội thì phải xưng; có kẻ thì lành, có kẻ thì dữ; thì chớ, chảng nghe thì chớ, 30c.


Thưa thày : Vestra Reverentia, 15c.


Thường, thường lề : ordinariè, phó từ, 27c.


Tièn (tiền) : moneta, thí dụ về tục kiêng tên, nếu ông chủ tên là Tiền thì gia nhân gọi trại là Toàn, 17c.


Tin : credere, thí dụ về chữ T, 6c.


Tình cờ, vô í : fortè, 27c.


Tla (tra) : condire, thí dụ về phụ âm kép TL, 5c.


Tlả (trả) : solvere, thí dụ về phụ âm kép TL, 5c.


Tle (tre) : canna Indica, thí dụ về phụ âm kép TL, 5c.


Tlên (trên) : supra, giới từ, 26c.


Tlong (trong) : intra, giới từ, 27đ.


Tlộm (trộm) : clam, giới từ, 27đ.


Tlước (trước) : ante, giới từ, 26c.


Tlước hết (trước hết) : primum, phó từ, 27c.


Tlước thạt : palam, phó từ, 27d.


Toan : statuere, thí dụ về dấu mũ ngửa đặt trên o, 10đ.


Toàn : thí dụ về tục kiêng tên vừa nói ở trên : Tièn được gọi tránh là Toàn, 17c.


Tổ tũ, tổ tũ ta (tổ tông ta) : progenitores nostri, số nhiều: tổ tông của chúng ta, 12g.


Tôi : ego, đại từ ngôi thứ nhất số ít, 11c, 15đ, 15c, 16g, 16c,17đ.


Tôi : ego, thí dụ lặp lại nhiều lần chữ tôi : tôi lạy thày, tôi bởi làng mà đến, tôi đã nhăọc, tôi xin xưng tội, , tôi xin chịu mình Chúa, 30g.


Tớ : ego, cách xưng hô khi giận dữ : tớ làm chi ngươi, ego quid curo te, 14c.


Tra : conferre, examinare, thí dụ về chữ R đặt sau T thành TR, 7đ.


Tuy là : quamvis, liên từ, 28đ.


- U –


U, chữ thứ 20 trong tự mẫu, 7đ.


U mê : idiota, rudis, thí dụ về nguyên âm U, 7đ.


- Ư –


Ư, một trong hai nguyên âm mới trong vần quốc ngữ, 2g;7c.


Ừ : lời đáp lại của người trên đối với người dưới, ừ, 27g.


Ưa : favere, thí dụ về nguyên âm ư, 7g.


Ước : putare, thí dụ về ơ đặt sau ư thành ươ, 6g.


- V -


V, thực ra tác giả nói có hai v, một v nguyên âm là u và một v phụ âm là V, nhưng rồi ông chỉ cắt nghĩa và cho thí dụ về u, tuyệt nhiên không đả động gì với v. Tuy nhiên trong Ngữ Pháp, có u phụ âm hay v.


Vi : phụ ngữ đặt cuối một câu làm cho ý nghĩa khẳng định hay phủ định thêm mạnh thí dụ: chảng đi thì chớ vi, non est iturus, sanè non est; phải vi, est valde rationi consonum (rất hợp lẽ phải vậy), 30c.


Vì : pro, giới từ, 26c.


Vì, thay vì : loco alterius, giới từ, 26c.


Vì chưng, nhin vì sự áy : propterea, quapropter,liên từ, 28đ.


Ví bàng (ví bằng) : sicuti, quemadmodum, liên từ, 28đ.


Viậc nó làm (việc nó làm) : opus ab illo factum hay opus quod ille facit - theo La ngữ, tác giả cho mệnh đề này một là thuộc thể bị động (việc làm bởi nó), hai là có một đại từ quan hệ (việc mà nó làm), khác với câu: nó làm việc, ille facit opus, là câu theo cách xếp đặt thông thường, 21đ.


- X –


X, chữ thứ 21 trong tự mẫu, đọc như tiếng Bồ, tiếng Ý thì là sc, 7g.


Xa : distans, thí dụ về chữ x, 7g.


Xa : remotè, giới từ, 26c.


Xe : currus, thí dụ về chữ x, 7g.


2008-03-10 06:45:22



Rating: 3.0/5 (7 votes cast)

[1] 2 3 4

  • Xin lưu ý: Là một diễn đàn tự do, vantuyen.net không chịu trách nhiệm về nội dung của những ý kiến đóng góp từ độc giả. Những ý kiến đóng góp có những lời lẽ không hay sẽ bị BBT xoákhoá IP vĩnh viễn. (khi bị khoá IP bạn sẽ không thể vô được vantuyen.net nữa.)

Mục lục tác phẩm
1. 1
2. 2
3. 3
4. 4
 Bần cố nông Biên khảo Cổ tích Chuyện lạ Danh nhân English Française Gia đình Giai thoại Giảm...sì trét! Giới thiệu Học làm người Hồi ký Huyền bí Hương vị Ký sự /Tạp ghi Khoa học Kiếm hiệp Kiến thức phổ thông Lịch sử Phát thanh Phê bình Phiếm Sân khấu Sức khoẻ Tài liệu Tác giả Tùy bút/Tản mạn/Tiểu luận Tấm lòng VÀNG Thời chinh chiến Thơ Thơ nhạc Thương Tiếc Tin học Trung hoa Truyện dài Truyện ngắn Vọng cổ Điểm nóng
 Mở lại vụ án Phạm Quỳnh - Sơn Tùng
 TỐ CÁO TỘI ÁC CSVN TRONG BIẾN CỐ LÀNG BA CHÚC, TỈNH AN GIANG VÀO THÁNG 4/ 1978 - Nguyễn Vĩnh Long Hồ
 Viết Về Chủ Tịch Hồ Chí Minh - Phương Nam
 Tầm nhìn xa - Nguyễn Khải
 Chữ Trinh - Hạ Thu
 Hồi Ký Bà Tùng Long - Bà Tùng Long
 Mặt Trận Ban Mê Thuột - Phạm Huấn
 Mao Trạch Đông, Cuộc Đời Chính Trị Và Tình Dục - Lý Chí Thỏa
 Quân Đội Nhân Dân Việt Nam… anh hùng ! - Nhân Lê
 Lê Duẩn, một Tần Thủy Hoàng hoang dâm vô độ - Chưa rõ Tác Giả


 Bộ Tranh Bích Chương "Sử Nghìn Người Chép" - Nguyễn Hữu Nhật
 Đại Đường Song Long Truyện - Huỳnh Dị
 Tầm Tần Ký - Huỳnh Dị
 Hương Vị Quê Hương (Các món chay, mắm, bánh, bún, hoa quả, cá...) - Nhiều Tác Giả
 Tru Tiên - Tiêu Đỉnh
 Nam Quốc Sơn Hà - Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
 Huyết Thiếp Vong Hồn Ký - Trần Thanh Vân
 500 giải đáp y học theo yêu cầu bạn đọc - Lê Trọng Bổng
 Sử Nhạc - Ngô Nguyễn Trần, Tâm Thơ
 MEKONG SÓNG CUỘN PHÙ SA - Nguyễn Vĩnh Long Hồ



trang chính    100 tác phẩm mới 



Thực hiện:  
Bùi Ngọc Tô, Huệ Thu, Tuấn Nguyễn, Phương Nguyễn, Tú Phương, Tâm Thơ, Long Nguyễn, Đăng Lê, Trần Thanh, Ngô Nguyễn Trần
(Hoa Kỳ - Pháp - Đức - Áo - Úc - Hoà Lan - Việt nam)